- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về hình phạt: Tuyên bố bị cáo Phạm Xuân T, Vương Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2025/HSST Ngày 30/9/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ N VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - LÀO CAI
Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Quang Đại.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đoàn Xuân Hưng
2. Ông Đoàn Thế Xương
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Mạnh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 -Lào Cai.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/2025/TLST-HS, ngày 16 tháng 9 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 – Lào Cai, đối với các bị cáo:
1. Phạm Xuân T - Sinh ngày 23 tháng 12 năm 1988, tại xã BH, tỉnh Lào Cai; ĐKHKTT và nơi cư trú: ThônNT, xã BH, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Trung N và bà Vương Thị B; Vợ: Hoàng Thị T; Tiền án, tiền sự: Chưa có; Nhân thân ngày 14/9/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai áp dụng biện pháp đưa vào cai nghiện bắt buộc thời gian là 12 tháng kể từ ngày 23/8/2022, ngày 23/8/2023 bị cáo chấp hành xong; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/9/2025, tạm giam từ ngày 09/9/2025 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại phân trại tạm giam khu vực Văn Bàn, tỉnh Lào Cai (Nay là phân trại tạm giam Văn Bàn thuộc trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Lào Cai) – Có mặt.
2. Vương Văn T - Sinh ngày 02 tháng 4 năm 1982, tại xã ML, tỉnh Lào Cai; ĐKHKTT và nơi cư trú: Thôn 3 MH, xã ML, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vương Văn T và bà La Thị T; Vợ: Nguyễn Thị D (Đã ly hôn); Tiền án, tiền sự: Chưa có; Nhân thân ngày 09/9/2015 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/9/2025, tạm giam từ ngày 10/9/2025 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại phân trại tạm giam khu vực Văn Bàn, tỉnh Lào Cai (Nay là phân trại tạm giam Văn Bàn thuộc trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Lào Cai) – Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Vương Văn T: Bà Lương Thị Chuyến – Trợ giúp viên – Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lào Cai – Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ ngày 03/9/2025, Phạm Xuân T, sinh năm 1988, trú tại thônNT, xã BH, tỉnh Lào Cai mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha (Không có BKS) của mẹ đẻ là bà Vương Thị B, sinh năm 1957 một mình điều khiển xe đến xã ML, tỉnh Lào Cai để thăm con. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, Thuỷ đến nhà Vương Văn T, sinh năm 1982, trú tại thôn 3 MH, xã ML, tỉnh Lào Cai chơi và ở lại ăn cơm. Sau khi ăn cơm xong, do biết T là người nghiện ma tuý nên Thuỷ có nói với T “Anh mua giúp em một ít để sử dụng” sau đó Thuỷ đưa cho T số tiền 300.000đồng T cầm tiền rồi nói “Anh không có tiền, anh mua giúp 200.000 đồng thôi còn 100.000 đồng anh xin tiền công” Thuỷ đồng ý. Sau đó T mượn xe mô tô của em trai là Vương Văn Vững, sinh năm 1985, trú cùng thôn với T một mình điều khiển đi ra khu vực chợ xã ML thì gặp một người phụ nữ dân tộc Mông khoảng 50 tuổi, cao khoảng 1,55m người béo và bị tật ở mắt trái T hỏi mua 200.000 đồng tiền ma tuý thì người này đưa cho T 01 gói ma tuý được gói ngoài bằng giấy bạc màu trắng. T cất gói ma tuý vào túi quần sau đó đi vào chợ mua 100.000 đồng tiền thức ăn và điều khiển xe đi về nhà. Khi về đến nhà, T đưa gói ma túy vừa mua được cho T và nói“cứ ngồi đây đợi, anh đi có việc cái đã” sau đó T điều khiển xe đi lên lán của gia đình ở cùng thôn còn T ở nhà T một mình lấy 01 phần ma túy từ gói ma túy vừa mua được ra sử dụng bằng hình thức hít, số ma tuý còn lại T giấu ở vạt ống quần đang mặc bên trái sau đó gấp ồng quần lên khoảng 5 gấp rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà. Khi đi đến thôn Nậm Bó, xã Văn Bàn, T bị Tổ Công tác Công an xã Văn Bàn kiểm tra T tự giác lấy từ trong vạt gấp ống quần bên trái T đang mặc ra 01 gói ma tuý giao nộp cho Tổ công tác và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Ngoài ra Thuỷ còn giao nộp 01 bật lửa màu đỏ có chữ H-VIET; 01 bật lửa màu đỏ có chữ TANAKA; số tiền 562.000đ; 01 CCCD mang tên Phạm Xuân Thuỷ; 01 D thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 12F màu đen; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha không có BKS.
Tại Kết luận giám định số 501/KL-KTHS ngày 05/9/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai, kết luận: 0,174 gam chất bột khô, vón cục, màu trắng thu giữ của Phạm Xuân Thuỷ ngày 03/9/2025 là chất ma tuý; loại Heroine (Heroin).
Tại Cáo trạng số: 10/CT-VKS – KV8 ngày 16/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Lào Cai đã truy tố bị cáo Phạm Xuân T và Vương Văn T về tội ‘Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025.
Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Lào Cai giữ nguyên nội dung Cáo trạng đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về trách nhiệm hình sự:
+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, 38, 17, 58 Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025 tuyên phạt bị cáo Phạm Xuân Thuỷ từ 03 năm 03 tháng đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, 38, 17, 58 Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025 tuyên phạt bị cáo Vương Văn T từ 03 năm đến 03 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên:
- Tịch thu tiêu hủy gồm: 0,14 gam ma túy Heroine còn lại sau giám định; 02 mảnh giấy bạc màu trắng và vỏ bì niêm phong ban đầu được niêm phong trong bì thư in sẵn của Phòng KTHS Công an tỉnh Lào Cai. Một mặt của bì niêm phong có ghi dòng chữ: “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Phạm Xuân Thuỷ tại thôn Nậm Bó, xã Văn Bàn, tỉnh Lào Cai ngày 03/9/2025”; 01 bật lửa màu đỏ có chữ H-VIET; 01 bật lửa màu đỏ có chữ TANAKA;
+Tiếp tục tạm giữ số tiền 200.000 đồng của bị cáo Thuỷ để đảm bảo T hành án;
+ Trả lại số tiền 362.000đ; 01 CCCD mang tên Phạm Xuân Thuỷ; 01 D thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 12F màu đen cho bị cáo Thuỷ.
- Truy thu số tiền 100.000đ của bị cáo T.
Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025, điều 38, điểm s khoản 1 điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự phạt bị cáo Vương Văn T 03 năm tù. Miễn án phí cho bị cáo. Bị cáo nhất trí với ý kiến của người bào chữa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi tố tụng và Quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận:
- Bị cáo Phạm Xuân T khai nhận khoảng 7 h ngày 03 tháng 9 năm 2025 bị cáo đi xe mô tô mô tô Wave không có biển kiểm soát từ xã BH đến nhà bị cáo Vương Văn T tại thôn 3 MH, xã ML, tỉnh Lào Cai khoảng 11 h. Đến đây bị cáo nhờ bị cáo T mua hộ bị cáo 300.000 đồng Heroine để sử dụng bị cáo T đã mua cho bị cáo 200.000 đồng tiền Heroine. Sau đó bị cáo sử dụng một phần còn gói lại gấp vào ống quần (bên trái) đang mặc rồi đi xe mô tô về xã BH, về đến thôn Nậm Bó, xã Văn Bàn thì bị Công an xã Văn Bàn bắt giữ cùng vật chứng.
- Bị Cáo Vương Văn T khai nhận khoảng 11 h ngày 03 tháng 9 năm 2025 bị cáo đang ở nhà thì bị cáo Phạm Xuân T đến chơi và nhờ bị cáo mua 300.000 đồng tiền Heroine. Bị cáo nói với bị cáo T bị cáo sẽ mua cho bị cáo T 200.000 đồng Heroine còn lại 100.000 đồng bị cáo T cho bị cáo (T) tiền công. Sau đó bị cáo T nhất trí nên bị cáo đã ra chợ xã ML mua của một người phụ nữ không quen biết 200.000 đồng tiền Heroine về đưa cho bị cáo T.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các biên bản hỏi cung và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ. Bị cáo Phạm Xuân T đã cất dấu trái phép trong người 0,174 gam Heroine trong người sau đó bị Công an xã Văn Bàn bắt giữ. Bị cáo Vương Văn T đi mua số Heroine trên về đưa cho bị cáo T. Trong quá trình điều tra không chứng minh được hành vi mua bán Heroine của bị cáo T mà chỉ chứng minh được trọng lượng Heroine sau khi bị cáo T đã sử dụng. Vì vậy đã có đủ cơ sở để xác định các bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025, đồng thời khẳng định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Lào Cai đã truy tố các bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên toà phù hợp với hành vi của bị cáo. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước, ảnh hưởng xấu đến an ninh chính trị tại địa phương. Cần đưa các bị cáo ra xét xử nghiêm các bị cáo đều là người nghiện ma túy, nhân thân xấu. Đối với bị cáo Phạm Xuân T đã bị áp dụng biện pháp bắt buộc đưa vào cơ sở cai nghiện sau khi chấp hành xong, đã được xóa tiền sự lại tiếp tục tàng trữ trái phép chất ma túy.
Đây là vụ án có đồng phạm giản đơn, vai trò của các bị cáo như sau: Bị can Phạm Xuân Thuỷ là người khởi xướng việc mua ma túy để sử dụng nên phải chịu trách nhiệm chính. Bị cáo Vương Văn T biết rõ mục đích bị can Phạm Xuân Thuỷ nhờ mua hộ ma tuý để sử dụng và được trả tiền công là 100.000đ do đó bị cáo Vương Văn T phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò người thực hành. Cần cân nhắc các mức hình phạt phù hợp với vai trò của từng bị cáo trong vụ án.
Trong quá trình điều tra, truy tố, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Riêng bị cáo Phạm Xuân T ông nội của bị cáo là Phạm Văn Bộ được nhà nước tặng huy chương kháng chiến hạng nhì nên cần áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ thêm hình phạt đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ chất ma túy với mục đích để sử dụng mà không có mục đích mua bán kiếm lời, bị cáo không có tài sản, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
Đối với người phụ nữ Vương Văn T khai là người đã bán ma tuý cho T tại cổng chợ ML. Quá trình điều tra không xác định được họ tên, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.
Sau khi bị cáo Vương Văn T mua hộ Heroine cho bị cáo Phạm Xuân T, bị cáo T đã được bị cáo T trả công 100.000 đồng đây là hành vi thu lợi bất chính do phạm tội mà có. Cần truy thu bị cáo Vương Văn T để tịch thu nộp quỹ nhà nước.
Về vật chứng: 0,14 gam Heroine; 02 mảnh giấy bạc màu trắng và vỏ bì niêm phong ban đầu; 01 bật lửa màu đỏ có chữ H-VIET; 01 bật lửa màu đỏ có chữ TANAKA là vật cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng. Cần tịch thu, tiêu hủy.
Tạm giữ 200.000 đồng trong số tiền 562.000đ của bị cáo Phạm Xuân T để đảm bảo T hành án; 362.000 đồng số tiền còn lại sau khi tạm giữ và 01 thẻ căn cước công dân mang tên Phạm Xuân T; 01 D thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 2F màu đen là giấy tờ nhân thân và tài sản hợp pháp của bị cáo Phạm Xuân T. Cần trả lại bị cáo.
Về án phí Bị cáo Vương Văn T là người dân tộc Tểu số sinh sống ở thôn MH 3, xã ML thộc thôn đặc biệt khó khăn cần miễn án phí cho bị cáo.
Bị cáo Phạm Xuân Thuỷ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về hình phạt: Tuyên bố bị cáo Phạm Xuân T, Vương Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, 58 Điều 38 Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo T áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Phạt bị cáo Phạm Xuân T 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp án tính từ ngày 03/9/2025.
Phạt bị cáo Vương Văn T 03 (Ba) năm tù. Thời hạn chấp hành án tính từ ngày 04/9/2025.
2. Về vật chứng:
Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ lật tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy 0,14 gam Heroine; 02 mảnh giấy bạc màu trắng và vỏ bì niêm phong ban đầu; 01 bật lửa màu đỏ có chữ H-VIET; 01 bật lửa màu đỏ có chữ TANAKA là vật cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng.
Tiếp tục tạm giữ 200.000 đồng trong tổng số tiền 562.000 đồng của bị cáo Phạm Xuân T để đảm bảo T hành án.
Trả lại bị cáo Phạm Xuân T 362.000 đồng còn lại sau tạm giữ. Tổng số tạm giữ hiện nay đang nằm trong tài khoản số 3949015413200000 Của T hành án dân sự tỉnh lào Cai mở tại Phòng kế toán Kho bạc nhà nước khu vực IX.
Trả lại bị cáo Phạm Xuân T 01 thẻ căn cước công dân mang tên Phạm Xuân T; 01 D thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 12F màu đen.
Các vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Phòng T hành án dân sự khu vực 8 - Lào Cai.
3. Truy thu để tịch thu nộp quỹ nhà nước bị cáo Vương Văn T 100.000 đồng.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/ 2016/ UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Bị cáo Phạm Xuân T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Miễn án phí cho bị cáo, Vương Văn T.
T hợp Quyết định được T hành theo quy định tại Điều 2 Luật T hành án dân sự thì người được T hành án dân sự, người phải T hành án dân sự có quyền thỏa thuận T hành án, quyền yêu cầu T hành án, tự nguyện T hành án hoặc bị cưỡng chế T hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật T hành án dân sự; thời hiệu T hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật T hành án dân sự.
Án xử công khai. Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh; - VKSND KV8; - TGPL; - Phòng Hồ sơ (PV06) Công an tỉnh Lào Cai; - THA (HS-DS); - Bị cáo; - Lưu: HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Quang Đại |