vanban.org

Bản án 11/2025/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "TTTPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 - BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2025/HSST
Ngày 22/7/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Anh Văn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Đào Thị Thu

2. Bà Lê Thị Xuân

Thư ký phiên toà: Bà Lê Hà Phương, Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Bắc Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết; Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 7 năm 2025, tại Phòng xử án Cơ sở 1 Tòa án nhân dân Khu vực 8, tỉnh Bắc Ninh (Trụ sở Toà án nhân dân huyện Tiên Du cũ) đã tiến hành xét xử sơ thẩm theo hình thức công khai vụ án hình sự thụ lý số: 116/2025/TLST-HS ngày 30 tháng 6 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST-HS ngày 08/7/2025, đối với bị cáo:

Trần Văn M, sinh năm 1985;

Tên gọi khác: Không; Hộ khẩu thường trú: Thôn Minh Hùng, xã Minh Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa;(Nay là thôn Minh Hùng, xã Vạn Lộc, tỉnh Thanh Hoá); Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 06/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Trần Văn Bồi (đã chết); và bà Hoàng Thị Thìn (đã chết); Gia đình có 6 anh chị em, bị cáo là thứ sáu; Vợ: Nguyễn Thị Thanh, sinh năm 1984; Con có 02 con, con lớn sinh năm 2006 con nhỏ sinh năm 2012;

Nhân thân: Tại bản án số 85/2013/HSST ngày 17/12/2013 của Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Đánh bạc”, quy định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999; chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 17/12/2014.

Tiền án, tiền sự: Chưa có

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/4/2025 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực Tiên Du. Có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 16 giờ 30 phút ngày 08/4/2025, tại khu vực trước cửa hàng tạp hóa “Thảo Lực” thuộc thôn Đinh, xã Tri Phương, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh (Nay là Thôn Đinh, xã Đại Đồng, tỉnh Bắc Ninh ); Công an xã Tri Phương bắt quả tang Trần Văn Mười, sinh năm 1985, hộ khẩu thường trú (HKTT) tại thôn Minh Hùng, xã Minh Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa (nay là Thôn Minh Hùng, xã Vạn Lộc, tỉnh Thanh Hoá) đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ:

Thu tại lòng bàn tay phải của Mười có 01 túi nilon màu trắng mở ra bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng và 02 viên nén hình tròn màu đỏ. Mười khai nhận là ma túy vừa mua được, chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang, lực lượng Công an niêm phong túi nilon trên vào phong bì thư theo quy định.

Tại Kết luận giám định số 837/KL-KTHS ngày 10/4/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận:

“- Chất tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon màu trắng có khối lượng là 0,1525 gam; là ma túy; loại ma túy: Methamphetamine.

- 02 viên nén hình tròn màu đỏ bên trong 01 túi nilon màu trắng có khối lượng là 0,1958 gam; là ma túy; loại ma túy: Methamphetamine.”

Tổng khối lượng ma túy thu giữ là: 0,3483 gam Methamphetamine.

Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo Trần Văn Mười khai nhận nội dung vụ việc như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 08/4/2025, do có nhu cầu sử dụng ma túy, Mười đi bộ từ khu trọ tại thôn Dương Húc, xã Đại Đồng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh (Nay là Thôn Dương Húc, xã Đại Đồng, tỉnh Bắc Ninh) đến đoạn bờ đê sông thuộc địa phận xã Tri Phương, huyện Tiên Du (Nay là xã Đại Đồng, tỉnh Bắc Ninh) để tìm mua ma túy. Tại đây, Mười mua của một nam thanh niên lạ mặt đứng ở rìa đường 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng và 02 viên nén hình tròn màu đỏ với giá 300.000đ. Sau đó, Mười cầm túi ma túy vừa mua được tại lòng bàn tay phải, tiếp tục đi bộ tìm nơi sử dụng. Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi đến quán tạp hóa “Thảo Lực” thuộc thôn Đinh, xã Tri Phương, Mười dừng lại vào mua nước để uống. Đúng lúc này, lực lượng Công an kiểm tra, bắt quả tang và thu giữ vật chứng như trên. Qua kiểm tra nước tiểu xác định, Mười dương tính với ma túy Methamphetamine, Mười khai nhận do Mười đã sử dụng ma túy từ trước nhưng không nhớ thời gian, địa điểm sử dụng ma túy

Tại Cáo trạng số 71/CT-VKSTD ngày 27/6/2025 của VKSND huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh (Nay là Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Tỉnh Bắc Ninh) truy tố Trần Văn Mười về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà, bị cáo nhận tội và khai nhận: Hồi 16 giờ 30 phút ngày 08/4/2025, tại khu vực trước cửa hàng tạp hóa “Thảo Lực” thuộc thôn Đinh, xã Tri Phương, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, (Nay là thôn Đinh, xã Đại Đồng, tỉnh Bắc Ninh) bị cáo Trần Văn Mười tàng trữ trái phép 0,3483 gam ma túy Methamphetamine để sử dụng cho bản thân thì bị Công an xã Tri Phương bắt quả tang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo. Sau khi phân tích tính chất của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố Trần Văn Mười phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt Trần Văn Mười từ 18 tháng tù đến 21 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/4/2025.

Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu mẫu vật hoàn lại sau giám định được niêm phong theo đúng quy định gồm vỏ đựng mẫu vật còn lại sau giám định gồm 0,0870 gam chất tinh thể màu trắng và 0,0940 gam viên nén màu đỏ.

Bị cáo nhận tội không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo tại phiên toà.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Ninh, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Tỉnh Bắc Ninh, đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo không có khiếu nại gì. Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng trên đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn nhận tội, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với kết quả tranh luận tại phiên tòa, đủ cơ sở khẳng định: Hồi 16 giờ 30 phút ngày 08/4/2025, tại khu vực trước cửa hàng tạp hóa “Thảo Lực” thuộc thôn Đinh, xã Tri Phương, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh (Nay là thôn Đinh, xã Đại Đồng, tỉnh Bắc Ninh), Công an xã Tri Phương bắt quả tang Trần Văn Mười tàng trữ trái phép 0,3483 gam ma túy Methamphetamine để sử dụng cho bản thân. Do vậy, có đủ căn cứ xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như Cáo trạng truy tố là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, xâm phạm sức khỏe và sự phát triển giống nòi của dân tộc, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, làm ảnh hưởng đến các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước, ma túy cũng là nguyên nhân của các tội phạm hình sự khác. Vì vậy, hành vi của bị cáo cần được xử phạt nghiêm. Việc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là cần thiết để cải tạo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản riêng, không có công việc, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[4] Về nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, đã 01 lần bị Toà án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hoá xét xử về tội “Đánh bạc”, quy định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999, đã chấp hành xong toàn bộ bản án.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Đối với số ma tuý còn lại sau giám định và vỏ đựng được niêm phong theo quy định pháp luật cần tịch thu, tiêu hủy là đúng quy định pháp luật.

[6] Liên quan trong vụ án:

- Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Mười: Mười khai không nhớ thời gian, địa điểm sử dụng ma túy do vậy chưa đủ căn cứ để xử lý, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

- Đối với nam thanh niên bán ma túy cho Mười: Mười khai không biết tên tuổi địa chỉ của nam thanh niên, chỉ dựa vào lời khai của Mười chưa đủ căn cứ để xác định con người cụ thể, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn Mười phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, khoản 1, khoản 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử phạt Trần Văn Mười 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/4/2025. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án (22/7/2025) để đảm bảo thi hành án.

Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy mẫu vật hoàn lại sau giám định được niêm phong theo đúng quy định gồm vỏ đựng mẫu vật còn lại sau giám định gồm 0,0870 gam chất tinh thể màu trắng và 0,0940 gam viên nén màu đỏ.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 02 ngày 11/7/2025 của Phòng thi hành án dân sự Khu vực 8 – Bắc Ninh)

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Trần Văn Mười phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ