vanban.org

Bản án 11/2025/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Nông Thanh C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Nông Thanh C 18 tháng tù giam. Thời gian chấp hành án được tính từ ngày 11 tháng 6 năm 2025. Về xử lý vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025), xử: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nông Thanh CH - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Nông Thanh C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 - CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2025/HSST
Ngày 19 tháng 9 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thúy

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Văn Xuyến và bà Hoàng Thị Chiên

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Hiên- Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2-Cao Bằng tham gia phiên toà: Bà Đàm Thị Hòa - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 2-Cao Bằng xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 07/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2025. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2025/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:

- Nông Thanh C; Sinh ngày 22 tháng 8 năm 1976 tại xã H, tỉnh Cao Bằng; Nơi đăng ký thường trú: Phố D, xã H, tỉnh Cao Bằng; Nơi ở: Tổ dân phố C, xã P, tỉnh Cao Bằng. Số Thẻ CCCD: 00407600019x, cấp ngày 31 tháng 3 năm 2021, nơi cấp: Bộ Công an; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nông Văn B (đã chết) và con bà: Nông Thị X (đã chết); Vợ: Nguyễn Thị M - sinh năm 1984; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không. Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không. Nhân thân: Ngày 10/02/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 1-Cao Bằng) xử phạt 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo Bản án số 06/2015/HSST.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/6/2025, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Quảng Hòa thuộc Trại giam Công an tỉnh Cao Bằng theo Quyết định tạm giam số 410/2025/HSST-QĐTG ngày 05/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 2-Cao Bằng. Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thị M, sinh năm 1984; địa chỉ: Tổ dân phố C, xã P, tỉnh Cao Bằng. Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 12 giờ 30 phút ngày 11/6/2025, Tổ công tác Đồn Biên phòng Cửa khẩu quốc tế Tà Lùng chủ trì phối hợp với Công an thị trấn H, huyện Q (nay là Công an xã P, tỉnh Cao Bằng) thực hiện nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại khu vực trục đường Quốc lộ 3 thuộc Tổ dân phố C, thị trấn H (nay là xã P) phát hiện Nông Thanh C đang đứng bên cạnh 01 chiếc xe máy điện cạnh đường có biểu hiện nghi vấn vi phạm pháp luật. Tổ công tác tiến hành kiểm tra đối với C phát hiện trong lòng bàn tay phải 01 gói được gói bằng lá màu xanh, mở ra bên trong chiếc lá có 02 gói, trong đó: 01 gói được gói bằng nilon màu hồng, 01 gói được gói bằng giấy bạc màu vàng bên trong đều có chứa các cục, vụn bột màu trắng nghi là ma túy. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Vật chứng thu giữ gồm: 02 gói chất bột màu trắng dạng cục lẫn bột; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nắp lưng màu đen, nhãn hiệu Samsung, máy đã qua sử dụng; 01 xe máy điện màu đen nhãn hiệu ARMANI, không có biển kiểm soát, xe đã qua sử dụng.

Cùng ngày, Đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế Tà Lùng, tỉnh Cao Bằng tiến hành khám xét khẩn cấp người, chỗ ở, phương tiện, công trình liên quan đối với Nông Thanh C tại tổ dân phố C, thị trấn H, huyện Q (nay là Tổ dân phố C, xã phục H), tỉnh Cao Bằng vào hồi 15 giờ 15 phút. Kết quả khám xét: Không thu giữ đồ vật, tài liệu, tài sản gì liên quan đến vụ án.

Hồi 16 giờ 30 phút ngày 11/6/2025, Đồn biên phòng cửa khẩu quốc tế Tà Lùng đã phối hợp cùng các cơ quan chức năng tiến hành cân xác định khối lượng vật chứng khi bắt quả tang Nông Thanh C có khối lượng là 0,29 gam và gửi toàn bộ chất bột màu trắng để phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng giám định.

Tại Bản kết luận giám định số: 276/KL-KTHS ngày 17/6/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng kết luận: Hai mẫu chất bột màu trắng bên trong hai phong bì niêm phong gửi giám định đều là ma túy. Loại Heroine (H2), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Quá trình điều tra đã xác định được: Khoảng 08 giờ ngày 11/6/2025, Nông Thanh C một mình điều khiển xe mô tô (không nhớ Biển kiểm soát) từ tổ dân phố C, thị trấn H (nay là xã P) đến khu vực cầu T thuộc xã Đ mục đích để tìm mua ma túy, loại Heroine về sử dụng. Đến nơi, C gặp một người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) có ngoại hình giống người nghiện ma túy, Chuyên hỏi và mua với người đàn ông đó 02 gói ma túy được gói bằng nilon màu hồng với giá 500.000 đồng. Mua được ma túy C điều khiển xe mô tô quay về nhà. Trên đường về, khi đến một đoạn đường vắng (không biết thuộc địa phận nào), C dừng xe lại và lấy 01 gói ma túy trong số ma túy vừa mua được ra tách lấy một phần để sử dụng cho bản thân bằng hình thức hít. Về đến nhà, C dùng giấy bạc màu vàng gói lại số ma túy mới mua. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, do lên cơn nghiện ma túy mà vợ con đang ở nhà nên C đem theo 02 gói ma túy rồi điều khiển xe máy điện từ nhà đi theo đường Q, hướng thành phố Cao Bằng được khoảng 300m rồi dừng lại ở cạnh đường bên trái, lấy một lá cây màu xanh bọc 02 gói ma túy lại và cầm ở tay phải của mình, dự định đi tìm khu vực vắng người để sử dụng. Khi đang đứng ở cạnh đường gần xe máy điện thì bị lực lượng chức năng làm nhiệm vụ kiểm tra phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng có liên quan.

Quá trình điều tra Nông Thanh C đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung đã nêu trên.

Tại bản cáo trạng số: 06/CT-VKSKV2 ngày 27 tháng 8 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2- Cao Bằng đã truy tố Nông Thanh C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2-Cao Bằng vẫn giữ nguyên Cáo trạng truy tố; sau khi đánh giá về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Nông Thanh C từ 01 đến 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

- Về vật chứng vụ án đề nghị: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước phong bì ghi: “số 276/KL- KTHS. H1 lại mẫu sau giám định vụ: Nông Thanh C - Tàng trữ trái phep chất ma túy”; 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi: “Vỏ phong bì niêm phong ban đầu và gói đựng cục, vụn bột màu trắng nghi ma túy thu giữ trên người Nông Thanh C ngày 11/6/2025”.

Trả lại cho Nông Thanh C 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nắp lưng màu đen, nhãn hiệu Samsung, máy đã qua sử dụng;

Trả lại cho bà Nguyễn Thị M 01 xe máy điện màu đen nhãn hiệu ARMANI, không có biển kiểm soát, xe đã qua sử dụng.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nông Thanh C đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến tranh luận gì.

Khi nói lời sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Cao Bằng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa (nay là Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2-Cao Bằng), Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Nông Thanh C tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong cân xác định trọng lượng vật chứng vụ án, bản Kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra, có đủ cơ sở xác định:

Khoảng 12 giờ ngày 11/6/2025, từ nhà ở của mình Nông Thanh C cầm theo 02 gói ma túy, loại Heroine có khối lượng là 0,29 gam và điều khiển xe máy điện đi ra đường quốc lộ 3, mục đích tìm khu vực vắng người để bản thân sử dụng ma túy. Trên đường đi thì bị lực lượng chức năng làm nhiệm vụ kiểm tra phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng có liên quan.

Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2-Cao Bằng truy tố Nông Thanh C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025) là có căn cứ, đúng pháp luật.

[ 3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, biết rõ tác hại của ma túy đối với bản thân, gia đình và xã hội nhưng vẫn cố tình thực hiện nên cần phải xử lý nghiêm.

Về nhân thân: Năm 2015 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Hòa An, Cao Bằng (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 1-Cao Bằng) xử phạt 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Tình tiết tăng nặng: Không có

Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

Về biện pháp ngăn chặn: Cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Về vật chứng vụ án xét thấy:

- Cần tịch thu tiêu hủy đối với: 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước phong bì ghi: “số 276/KL- KTHS. H1 lại mẫu sau giám định vụ: Nông Thanh C “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi: “Vỏ phong bì niêm phong ban đầu và gói đựng cục, vụn bột màu trắng nghi ma túy thu giữ trên người Nông Thanh C ngày 11/6/2025”.

- Đối với 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nắp lưng màu đen, nhãn hiệu S, máy đã qua sử dụng là của Nông Thanh C không liên quan đến việc phạm tội nên cần hoàn trả cho bị cáo.

- Đối với 01 xe máy điện màu đen nhãn hiệu ARMANI, không có biển kiểm soát, xe đã qua sử dụng. Quá trình điều tra đã xác định được chiếc xe này của bà Nguyễn Thị M (là vợ của Nông Thanh C) mua tại cửa hàng xe máy điện Lâm Kiều (địa chỉ tại Tổ dân phố E, xã P, tỉnh Cao Bằng) vào ngày 27/4/2023 với giá 9.100.000 đồng mục đích để cho các con dùng làm phương tiện đi học. Do đó cần hoàn trả chiếc xe này cho bà M.

Về các vấn đề khác: Đối với người đàn ông bán ma túy cho Nông Thanh C vào ngày 11/6/2024 (theo lời khai của C). Quá trình điều tra không xác định được họ tên, địa chỉ nên không đủ căn cứ để mở rộng điều tra.

Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Nông Thanh C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

- Xử phạt: Nông Thanh C 18 tháng tù giam. Thời gian chấp hành án được tính từ ngày 11 tháng 6 năm 2025.

2. Về xử lý vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025), xử:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước phong bì ghi: “số 276/KL- KTHS. H1 lại mẫu sau giám định vụ: Nông Thanh C - Tàng trữ trái phép chất ma túy”; 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi: “Vỏ phong bì niêm phong ban đầu và gói đựng cục, vụn bột màu trắng nghi ma túy thu giữ trên người Nông Thanh C ngày 11/6/2025”.

- Trả cho Nông Thanh C 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nắp lưng màu đen, nhãn hiệu Samsung, máy đã qua sử dụng. (điện thoại được đựng trong 01 phong bì niêm phong mặt trước ghi “Điện thoại di động của Nông Thanh C”. Mặt sau có chữ ký của thành phần tham gia và 04 con dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C).

- Trả cho bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1984, địa chỉ: Tổ dân phố C, xã P, tỉnh Cao Bằng 01 xe máy điện màu đen, trên động cơ điện có ghi chữ ARMANI, không có biển kiểm soát, có số máy: MDHY 48V350W2302160573 (có bản cà số máy kèm theo), có 01 chìa khóa xe kèm theo, xe cũ đã qua sử dụng.

(Xác nhận số vật chứng trên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh C đã chuyển sang Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 2-Cao Bằng tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/9/2025). 3. Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Buộc bị cáo Nông Thanh C phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025);

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ