- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Hoàng N - Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Võ Thị T 01 (một) năm tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 11/2025/HS-ST Ngày 16 tháng 7 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Thức
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hoàng Tú
Bà Nguyễn Thị Nhơn
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Huy Khang - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân khu vực 5 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 201/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2022/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2022 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Võ Thị T; Sinh năm 1974; Giới tính: Nữ; Nơi sinh: Thành phố H; Nơi ĐKHKTT: 15/83/57 đường V, phường T (phường A, quận B cũ), Thành phố H; Chỗ ở: 15/83/57 đường V, phường T (phường H, quận B cũ) Thành phố H; Quốc tịch: V; Dân tộc: K; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Không; Họ tên cha: Võ Văn T, sinh năm 1938; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị M (chết); Chồng, con: Chưa có.
Nhân thân: Ngày 16/10/2019 Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tuáng về tội “Đánh bạc” theo bản án số 387/2019/HSST. Đã chấp hành xong thời gian thử thách án treo ngày 16/4/2021 và đã đóng án phí hình sự.
Tiền án, tiền sự: Không có; Biện pháp ngăn chặn: Tạm giam từ ngày 21/11/2024 đến ngày 27/02/2025 thay đổi biện pháp ngăn chặn:
2. Họ và tên: Nguyễn Thị Hoàng N; Sinh năm 2004; Giới tính: Nữ; Nơi sinh: Thành phố H; Nơi ĐKHKTT: 306/76/16 đường X, phường T (phường U, quận B cũ), Thành phố H; Chỗ ở: 224/6/36 đường U, phường T (phường 25, quận B cũ), Thành phố H; Quốc tịch: V; Dân tộc: K; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Không có; Họ tên cha: Không rõ; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Hoàng D; Anh, chị, em: Có 03 người, bị cáo là con thứ 2 trong gia đình; Chồng: Trần Phong V, sinh năm 1998 (Không đăng ký kết hôn) con: Không có; Tiền án, tiền sự: không có; Biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú.
3. Họ và tên: Nguyễn Thị Hoàng L; Sinh năm 1980; Giới tính: Nữ; Nơi sinh: Thành phố H; Nơi ĐKHKTT: 306/76/16 đường X, phường T (phường O, quận B cũ), Thành phố H; Chỗ ở: 224/6/36 đường U, phường T (phường I, quận B cũ), Thành phố H; Quốc tịch: V; Dân tộc: K; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 4/12; Nghề nghiệp: Không; Họ tên cha: Nguyễn Văn D, sinh năm 1954; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1958; Anh, chị, em: Có 07 người, bị cáo là con thứ 4 trong gia đình; Chồng: Nguyễn Thanh K, sinh năm 1988; Con: Có 03 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2024.
Nhân thân: Ngày 12/9/2003 Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 (ba) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo bản án số 206/HSST. Năm 2005 đã chấp hành xong hình phạt của bản án và đã đóng án phí hình sự. Tiền án, tiền sự: không có; Biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú.
(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Những người tham gia tố tụng: Không có
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do quen biết từ trước, Nguyễn Thị Hoàng N nhận đứng ra để ghi số đề cho Võ Thị T. Trong các ngày 10/11/2024, 11/11/2024, 13/11/2024 Nguyễn Thị Hoàng N ghi số đề cho dì của mình là Nguyễn Thị Hoàng L. Qua giải phơi từ những tài liệu còn trích xuất được xác định:
+ Ngày 10/11/2024: Nguyễn Thị Hoàng L mua của Nguyễn Thị Hoàng N 03 con số đề gồm các đài xổ số miền Nam (Tiền Giang, Kiên Giang, Đà Lạt) với tổng số tiền mua số là 3.390.000 đồng. Sau khi trừ tiền cò 20% thì số tiền Linh phải thanh toán là 2.712.000 đồng. Kết quả xổ số miền Nam ngày 10/11/2024 thì trúng đề con số “33” của đài Tiền Giang và Đà Lạt Linh mua với số tiền là 50.000 đồng, hình thức bao lô 3 đài nên trúng đề số tiền là 7.500.000 đồng.
Cùng ngày 10/11/2024 Nguyễn Thị Hoàng L mua của Nguyễn Thị Hoàng N 05 con số đề của đài xổ số Miền Bắc với tổng tiền mua số là 6.810.000 đồng. Sau khi trừ tiền cò 20% thì số tiền Linh phải thanh toán là 5.448.000 đồng.
Kết quả xổ số miền Bắc ngày 10/11/2024 thì có số "82" mua với số tiền là 100.000 đồng bao lô trúng để số tiền 15.000.000 đồng. Sau khi Võ Thị T trừ tiền mua số đề thì đã chuyển lại cho Ngân số tiền thắng 14.340.000 đồng(mười bốn triệu ba trăm bốn mươi nghìn đồng) để Ngân chuyển lại cho người mua số đề Nguyễn Thị Hoàng Linh, tuy nhiên Thảo trừ số tiền Ngân nợ trước đây, nên Thảo chỉ chuyển cho Ngân số tiền là 12.176.000 đồng, Thảo cho Ngân thêm 176.000 đồng. Sau đó Ngân đã trừ tiền Linh nợ Ngân trước đó nên đã chuyển khoản cho Linh số tiền là 9.000.000 đồng.
Do đó, trong ngày 10/11/2024 Linh, Ngân và Thảo đánh bạc 02 lần với 02 đài gồm đài miền Bắc và đài miền Nam với tổng số tiền đánh bạc của đài miền Nam là 10.890.000 đồng và số tiền đánh bạc đài miền Bắc trong lần này là 22.500.000 đồng, sau khi trừ tiền mua đề là 8.160.000 đồng. Do đó Nguyễn Thị Hoàng L thu lợi bất chính là 14.340.000 đồng.
+ Ngày 11/11/2024: Nguyễn Thị Hoàng L mua của Nguyễn Thị Hoàng N 06 con số đề xổ số miền Nam gồm các đài Thành phố Hồ Chí Minh và Đồng Tháp với tổng tiền mua số là 4.940.000 đồng. Trong ngày này không có con số đề nào trúng. Tổng số tiền đánh bạc trong lần này là 4.940.000 đồng.
+ Ngày 13/11/2024: Nguyễn Thị Hoàng L mua của Nguyễn Thị Hoàng N 05 con số đề đài miền Nam gồm các đài xổ số Đồng Nai, Cần Thơ với tổng số tiền mua số là 2.200.000 đồng. Mua 02 con số đề đài miền Trung (gồm đài Đà Nẵng, Khánh Hòa) với tổng số tiền là 2.700.000 đồng; Mua 01 con số đề đài miền Bắc số tiền là 1.080.000 đồng. Trong ngày này không có con số đề nào trúng. Tổng số tiền đánh bạc trong ngày là 5.980.000 đồng. Số tiền Ngân đã chuyển khoản cho Thảo là 4.600.000 đồng do Thảo bớt số tiền lẻ.
Sau khi bán số đề cho Linh thì Ngân chuyển tất cả số đề đã bán cho Linh đến Võ Thị T để hưởng chênh lệch bằng tin nhắn tài khoản zalo của Ngân tên “Hoàng Ngân” đăng ký bằng số điện thoại “+84708947XXX" đến tài khoản zalo của Thảo là “Như Ý” đăng ký bằng số điện thoại “+84776767YYY”. Tiền mua bán số đề thì Ngân dùng tài khoản ngân hàng của mình chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng của Thảo số 1018485XXX ngân hàng Vietcombank hoặc tài khoản số 060064610XXX ngân hàng Sacombank. Khi có kết quả xổ số của ngày mua bán số đề thì Thảo sẽ tính toán tiền thắng đề với tiền mua số đề rồi chuyển khoản tiền dư cho Ngân nếu tiền thắng đề lớn hơn tiền mua số đề. Nếu ngày nào không có số trúng đề thì Ngân sẽ chuyển tiền mua số đề cho Thảo. Sau khi nhận được tiền từ Thảo thì Ngân chuyển lại cho Linh nếu số tiền Linh trúng đề lớn hơn số tiền mua số đề, nếu không có số trúng thì Linh chuyển tiền mua số đề cho Ngân
Đến 23 giờ 00 phút, ngày 13/11/2024, Tổ 363 Công an quận Bình Thạnh kiểm tra hành chính Trần Phong D (là người yêu của Ngân) chở theo Nguyễn Thị Hoàng N đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 94F1- 197.XX tại trước số nhà số 33 đường B, Phường T, quận B, Thành phố H. Tại Công an Phường 27 kiểm tra điện thoại di động của Nguyễn Thị Hoàng N thì phát hiện trong điện thoại của Ngân có các tin nhắn liên quan đến đánh bạc bằng hình thức mua bán số đề nên Công an Phường 27, quận Bình Thạnh lập hồ sơ chuyển Đội Cảnh sát hình sự. Sau khi truy xét, Cơ quan điều tra đã mời Võ Thị T, Nguyễn Thị Hoàng L về làm việc. Các đối tượng đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
+ Vật chứng thu giữ:
- Thu giữ của Nguyễn Thị Hoàng N 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxay ZFlip dùng để đánh bạc;
- Thu giữ của Võ Thị T 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 Promax dùng để đánh bạc;
- Thu giữ của Nguyễn Thị Hoàng L 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxay A12 dùng để đánh bạc.
+ Trách nhiệm dân sự:
Tại bản cáo trạng số 227/CT-VKS-QBTh ngày 18 tháng 6 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh (Nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Thành phố Hồ Chí Minh) đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thị Hoàng N, Nguyễn Thị Hoàng L và Võ Thị T về tội “Đánh bạc”, được quy định tại khoản 1, Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Nguyễn Thị Hoàng N, Nguyễn Thị Hoàng L và Võ Thị T đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình giống như lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đồng thời bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh đã truy tố. Quá trình điều tra các bị cáo hoàn toàn tự nguyện khai báo, không ai ép buộc các bị cáo khai không đúng với ý chí của các bị cáo. Các bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt khi được nói lời nói sau cùng.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Thành phố Hồ Chí Minh thực hành quyền công tố trình bày quan điểm của Viện kiểm sát đối với vụ án, sau khi phân tích tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đã giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị Hoàng N, Nguyễn Thị Hoàng L và Võ Thị T phạm tội “Đánh bạc”.
1. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52 điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Võ Thị T mức án từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hánh án.
2. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52 điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hoàng L mức án từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hánh án.
3. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52 điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hoàng N mức án từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hánh án.
Các bị cáo có khoản cảnh khó khăn, thuộc thành phần nghèo ở địa phương nên đề nghị Hội đồng xét xử không phạt bổ sung bằng tiền với các bị cáo; Về vật chứng và trách nhiệm dân sự đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Bình Thạnh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Thị Hoàng N, Nguyễn Thị Hoàng L và Võ Thị T khai nhận đã thực hiện các hành vi như Cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo khai nhận quá trình điều tra tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Bình Thạnh, bị cáo hoàn toàn tự nguyện khai báo, không bị ép buộc khai không đúng với ý chí của các bị cáo. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, biên bản hỏi cung bị can, biên bản đối chất, biên bản thu giữ vật chứng, cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Do quen biết từ trước nên Nguyễn Hoàng N đứng ra làm trung gian ghi số đề cho Võ Thị T. Trong các ngày 10/11/2024, 11/11/2024 và 13/11/2024 Nguyễn Hoàng N đã ghi số đề cho Nguyễn Thị Hoàng L (là dì ruột) sau đó chuyển tiền ghi số đề cho Võ Thị T và tiền trúng số đề cho Nguyễn Thị Hoàng L, qua giải phơi đề xác định như sau: Ngày 10/11/2024 Nguyễn Thị Hoàng L mua ba con số đề gồm các đài xổ số miền Nam là Tiền Giang, Kiên Giang, Đà Lạt với tổng số tiền mua số đề là 3.390.000 đồng. Kết quả xổ số miền Nam ngày 10/11/2024 thì Linh trúng đề con số 33 của đài Tiền Giang và Đà Lạt mua với số tiền là 50.000 đồng, hình thức bao lô 3 đài, nên trúng đề số tiền là 7.500.000 đồng.
Tiếp tục trong ngày 10/11/2024 Nguyễn Thị Hoàng L mua 05 con số đề của đài xổ số miền Bắc với tổng số tiền mua số đề là 6.810.000 đồng. Kết quả xổ số miền Bắc ngày 10/11/2024 thì Linh trúng đề số 82 mua với số tiền 100.000 đồng bao lô hai con, nên trúng đề số tiền 15.000.000 đồng. Sau khi Võ Thị T trừ số tiền mua số đề thì Nguyễn Hoàng N nhận số tiền còn lại là 14.340.000 đồng, tuy nhiên Võ Thị T trừ số tiền Nguyễn Hoàng N nợ trước đây nên đã chuyển cho Ngân số tiền là 12.176.000 đồng, trong đó Thảo cho Ngân thêm 176.000 đồng. Như vậy, trong ngày 10/11/2024 Nguyễn Thị Hoàng N, Nguyễn Thị Hoàng L và Võ Thị T đánh bạc 02 lần với số tiền đánh bạc đài miền Nam là 10.890.000 đồng và tiền đánh bạc đài miền Bắc là 21.810.000 đồng. Như vậy, tổng cộng trong ngày 10/11/2024 các bị cáo Nguyễn Thị Hoàng N, Nguyễn Thị Hoàng L và Võ Thị T đã tham gia đánh bạc với tổng số tiền của 02 lần đánh bạc là 32.700.000 đồng. Nguyễn Thị Hoàng L trúng đề tổng cộng 22.500.000 đồng sau khi trừ tiền mua số đề, bị cáo Linh thu lợi bất chính tổng cộng là 14.340.000 đồng. Ngoài ra ngày 11/11/2024 Ngân giúp Linh mua 06 con xố đề của đài miền Nam gồm đài Thành phố Hồ Chí Minh và đài Đồng Tháp số tiền là 4.940.000 đồng. Ngày 13/11/2024 Ngân giúp Linh mua của Thảo các con số đề các đài xổ số miền Bắc, miền Trung và miền Nam tổng cộng số tiền là 5.980.000 đồng, trừ đi tiền khuyến mãi, Thảo thu lợi số tiền bất chính là 4.784.000 đồng.
Từ những hành vi và chứng cứ nêu trên, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo Nguyễn Thị Hoàng N, Nguyễn Thị Hoàng L và Võ Thị T đã cấu thành tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 nên Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.
Các bị cáo Nguyễn Thị Hoàng N, Nguyễn Thị Hoàng L và Võ Thị T là người đã trưởng thành, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, tuy nhiên do muốn có tiền tiêu xài bằng con đường bất chính, các bị cáo đã tham gia trực tiếp ghi số đề ăn thua bằng tiền với nhau vào ngày 10/11/2024 các bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý, việc bị phát hiện và bắt quả tang nằm ngoài ý thức chủ quan của bị cáo, tội phạm đã hoàn thành.
Hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Thị Hoàng N, Nguyễn Thị Hoàng L và Võ Thị T là nguy hại cho xã hội, vì đánh bạc là một trong những tệ nạn gây ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội, xâm phạm đến an toàn trật tự công cộng, gây mất an ninh trật tự xã hội, đây chính là nguyên nhân sâu xa phát sinh một số loại tội phạm khác. Việc chơi bạc còn tạo cho con người có thói quen trông đợi vào sự may rủi trong cuộc sống, lười biếng lao động, không chú tâm làm ăn lương thiện, là nguyên nhân dẫn đến sự đổ vỡ hạnh phúc của nhiều gia đình. Những người có hành vi vi phạm tùy tính chất mức độ sẽ bị xử lý theo pháp luật; các bị cáo nhận thức được điều này nhưng do tính tư lợi cá nhân, muốn có tiền tiêu xài, thiếu ý thức tôn trọng pháp luật nên đã cố ý phạm tội. Do đó, khi lượng hình cần có mức hình phạt phù hợp với hành vi phạm tội, nhân thân, lai lịch của các bị cáo thì mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo Nguyễn Thị Hoàng N, Nguyễn Thị Hoàng L và Võ Thị T: Trong ngày 10/11/2024 các bị cáo đã cùng nhau thực hiện hành vi đánh bạc hai lần bằng hình thức ghi số đề, với tổng số tiền đánh bạc của đài miền Nam là 10.890.000 đồng và số tiền đánh bạc của đài miền Bắc là 21.810.000 đồng. Do đó, các bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Ngoài ra, Hội đồng xét xử xem xét các bị cáo Nguyễn Thị Hoàng N và bị cáo Võ Thị T phạm tội có tính chất đồng phạm: Bị cáo Ngân là trung gian người đứng ra ghi số đề bán cho Linh sau đó chuyển tất cả các số đề đã bán và tiền đến Võ Thị T, nên Ngân với vài trò là đồng phạm, là trung gian, giúp sức từ bán số đề đến việc chi trả tiền trúng đề cho Linh, bị cáo Linh là con bạc tham gia trực tiếp việc đánh bạc. Bị cáo Võ Thị T là chủ đề của các con bạc chơi. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhưng chưa có sự phân công nhiệm vụ, vai trò cụ thể, chưa cấu kết chặt chẽ với nhau. Do đó hành vi phạm tội của các bị cáo là đồng phạm mang tính giản đơn. Vì vậy, căn cứ vào từng hành vi, tính chất, mức độ tham gia của từng bị cáo, nhân thân của các bị cáo, để Hội đồng xét xử phân hóa trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của từng bị cáo, mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.
Ngoài ra, Hội đồng xét xử cũng xem xét đến nhân thân của các bị cáo Nguyễn Thị Hoàng L và Võ Thị T như sau:
Đối với bị cáo Linh: Ngày 12/9/2003 Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 (ba) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo bản án số 206/HSST. Năm 2005 đã chấp hành xong hình phạt của bản án và đã đóng án phí hình sự, do đó bị cáo được xóa án tích.
Đối với bị cáo Thảo: Ngày 16/10/2019 Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Đánh bạc” theo bản án số 387/2019/HSST. Đã chấp hành xong thời gian thử thách án treo ngày 16/4/2021 và đã đóng án phí hình sự, do đó bị cáo được xóa án tích.
Tuy nhiên, qua đó cho thấy các bị cáo Nguyễn Thị Hoàng L và Võ Thị T có nhân thân xấu. Các bị cáo không lấy đó làm bài học để ăn năn hối cải, nay lại tiếp tục phạm tội thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng một mức án nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, tương xứng với mức độ và hành vi phạm tội của các bị cáo, nhân thân của các bị cáo mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.
Tuy nhiên, tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo Nguyễn Thị Hoàng N, Nguyễn Thị Hoàng L và Võ Thị T có thái độ thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nhân thân của bị cáo Nguyễn Thị Hoàng N tốt, lần đầu tiên bị kết án. Các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo Nguyễn Thị Hoàng N đang mang thai, bị cáo Nguyễn Thị Hoàng L đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi, các bị cáo Nguyễn Thị Hoàng L và Võ Thị T có trình độ học vấn thấp. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 cho các bị cáo Nguyễn Thị Hoàng N, Nguyễn Thị Hoàng L và Võ Thị T để giảm nhẹ cho mỗi bị cáo một phần hình phạt, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
Ở dạng tội phạm này ngoài hình phạt chính là phạt tù ra thì các bị cáo còn phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuy nhiên xét thấy các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, hiện nay không có việc làm, không có thu nhập ổn định, nên nghĩ không phạt bổ sung bằng tiền với bị cáo là phù hợp.
Đối với hành vi đánh bạc vào các ngày ngày 11/11/2024 của các bị cáo Nguyễn Thị Hoàng N, Nguyễn Thị Hoàng L và Võ Thị T, tuy nhiên số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng nên không bị xử lý hình sự theo quy định.
Về xử lý vật chứng:
- Thu giữ của Nguyễn Thị Hoàng N 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxay ZFlip dùng để đánh bạc. Là vật chứng của vụ án, bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội, do đó Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
- Thu giữ của Võ Thị T 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 Promax dùng để đánh bạc. Là vật chứng của vụ án, bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội, do đó Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
- Thu giữ của Nguyễn Thị Hoàng L 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxay A12 dùng để đánh bạc. Là vật chứng của vụ án, bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội, do đó Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
Về trách nhiệm dân sự:
Khi thực hiện việc đánh bạc bị cáo Nguyễn Thị Hoàng L thu lợi bất chính tổng số tiền là 14.340.000 đồng, bị cáo Nguyễn Thị Hoàng N thu lợi bất chính số tiền được Võ Thị T cho là 296.000 đồng, bị cáo Võ Thị T thu lợi bất chính 4.784.000 đồng. Do đó, các bị cáo đồng ý tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi bất chính để sung công quỹ Nhà nước.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại các Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Võ Thị T 01 (một) năm tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
(Bị cáo Võ Thị T được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/11/2024 đến ngày 27/2/2025).
2. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hoàng L 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
3. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hoàng N 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền với bị cáo Nguyễn Thị Hoàng N, Nguyễn Thị Hoàng L và Võ Thị T.
Buộc bị cáo Nguyễn Thị Hoàng L nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 14.340.000 đồng (Mười bốn triệu ba trăm bốn mươi ngàn đồng) để sung công quỹ Nhà nước; Buộc bị cáo Nguyễn Thị Hoàng N nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 296.000 đồng (hai trăm chín mươi sáu ngàn đồng) để sung công quỹ Nhà nước; Buộc bị cáo Võ Thị T nộp lại số tiền thu lợi bất chính 4.784.000 đồng (bốn triệu bảy trăm tám mươi tư ngàn đồng) để sung công quỹ Nhà nước.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành xong, nếu các bị cáo Nguyễn Thị Hoàng L, Nguyễn Thị Hoàng N và Võ Thị T chưa thi hành đủ số tiền buộc nộp là tiền thu lợi bất chính nêu trên, thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
4. Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
+ Tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước:
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxay ZFlip;
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 Promax;
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxay A12.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng lúc 15 giờ 00 phút, ngày 27/5/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh – Nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 - Thành phố Hồ Chí Minh).
5. Căn cứ các Điều 135; 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND TP.Hồ Chí Minh; - VKSND TP.Hồ Chí Minh; - VKSND khu vực 5 - Thành phố Hồ Chí Minh - CA Thành phố Hồ Chí Minh; - Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh; - THA HS; - PC.27 Công an Thành phố Hồ Chí Minh; - Trại giam; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Thức |