- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Mạnh C phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Mạnh C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:11/2025/HS-ST Ngày 29-8-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Xuân Đạt
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Hùng Vương
Ông Triệu Minh Tư
- Thư ký phiên tòa: Bà Mồng Thu Hường - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 -Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Chiến - Kiểm sát viên.
Ngày 29/8/2025 Tòa án nhân dân khu vực 4 - Tuyên Quang tiến hành đưa ra xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến tại điểm cầu trung tâm Hội trường xét xử hình sự Tòa án nhân dân khu vực 4 - Tuyên Quang và điểm cầu thành phần Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh T, vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 02/2025/TLST- HS ngày 18 tháng 7 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2025/QĐXXST- HS ngày 15/8/2025, đối với bị cáo:
ĐỖ MẠNH C, sinh ngày 01/10/1989, tại tỉnh Tuyên Quang; nơi cư trú: Thôn C, xã P, huyện H, tỉnh Tuyên Quang (cũ) nay là thôn C, xã P, tỉnh Tuyên Quang; nơi tạm trú: Số A, đường M, tổ A, phường M, thành phố Hà Nội; nơi ở hiện tại: Số A, đường M, tổ A, phường M, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Minh H, sinh năm 1962 và con bà Đỗ Thị T, sinh năm 1960; vợ, con: có vợ là Lò Thị N, sinh năm 1991 (đã ly hôn); tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 15/3/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 01 năm 06 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đã được xóa án tích.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 15/4/2025, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh T
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Đỗ Minh H; sinh năm:1962; địa chỉ: Thôn C, xã P, tỉnh Tuyên Quang (Có măt).
- Những Người làm chứng: Nguyễn Văn V; Vàng P(vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 30 phút, ngày 14/4/2025, tại trước cửa nhà nghỉ của nhà xe Q thuộc thôn C, xã P, thành phố H, tỉnh Hà Giang (cũ) nay là tổ dân phố A N, phường H, tỉnh Tuyên Quang, Công an phường N, thành phố H, tỉnh Hà Giang (cũ) nay là Công an phường H, tỉnh Tuyên Quang kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang bị cáo Đỗ Mạnh C đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,3135 gam (không phẩy ba nghìn một trăm ba lăm gam) ma túy loại MDMA với mục đích để sử dụng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Đỗ Mạnh C khai: Khoảng 16 giờ ngày 14/4/2025, bị cáo là phụ xe khách của nhà xe Q đang chờ đón khách tại bến xe M, thành phố Hà Nội mục đích chở khách về thành phố H. Lúc này, có người đàn ông tên T1 do cùng làm việc tại bến xe M nên cả hai biết nhau, T1 biết bị cáo đã từng đi chấp hành án phạt tù về tội liên quan đến ma túy nên hỏi "Mày còn chơi không, tao cho một ít", bị cáo hiểu ý T1 hỏi có sử dụng ma túy không T1 cho, bị cáo trả lời "Có", sau đó T1 lấy trong túi quần đưa cho bị cáo một gói nilon màu trắng trong suốt bên trong có chứa một viên ma túy (dạng kẹo) màu xám, bị cáo nhìn và nhận ra đó là ma túy vì đã từng sử dụng nên cầm cất giấu vào túi quần đang mặc rồi tiếp tục chờ đón khách.
Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày bị cáo theo xe khách Quang Nghị xuất bến từ Bến xe M lên thành phố H, khoảng 22 giờ 30 phút thì đến B thành phố H, sau khi trả khách bị cáo rủ Nguyễn Văn V cùng là phụ xe của nhà xe Q đi uống bia, V đồng ý. Bị cáo điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại SH, màu trắng, biển kiểm soát 22Y1-327.08 chở V ngồi sau đi đến quán bia ở K thuộc tổ H, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Giang (nay là tổ dân phố H N, phường H, tỉnh Tuyên Quang) để uống bia. Bị cáo và V ngồi uống bia được khoảng 30 phút thì V gọi điện thoại rủ V1 Phàn Páo cùng làm phụ xe khách với bị cáo và V đến cùng uống bia. Khoảng 20 phút sau P đi đến, cả ba ngồi uống bia đến khoảng 23 giờ 30 phút thì nghỉ ra về. Bị cáo điều khiển xe mô tô chở P ngồi giữa, V ngồi sau di chuyển về nhà nghỉ của nhà xe Q tại thôn C, xã P, thành phố H, tỉnh Hà Giang để ngủ. Khi đi đến trước cửa nhà nghỉ của nhà xe Q bị cáo phát hiện có lực lượng Công an đi tuần tra đang áp sát yêu cầu bị cáo dừng xe để kiểm tra hành chính, thấy vậy bị cáo cầm 01 gói nilon trên tay búng rơi xuống vỉa hè, tổ công tác phát hiện hành vi của bị cáo có dấu hiệu bất thường nên đã tiến hành lập biên bản niêm phong, thu giữ vật chứng là 01 viên nén (nghi là ma túy); 01 chiếc điện thoại IPHONE 13 PROMAX màu vàng, màn hình cảm ứng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA SH, Màu sơn trắng, biển kiểm soát 22Y1-327.08 (đã qua sử dụng) và đưa bị cáo về trụ sở Công an phường N (nay là Công an phường H) làm việc.
Ngày 16/4/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H ra Quyết định trưng cầu giám định số 843/QĐ-CSMT, trưng cầu Phòng K Công an tỉnh H giám định đối với 01 (một) mẫu gửi giám định, ký hiệu A thu giữ liên quan đến vụ án Tàng trữ trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 14/4/2024 tại thôn C, xã P, thành phố H, tỉnh Hà Giang.
Tại bản Kết luận giám định số 161/KL-KTHS, ngày 19/4/2025 của Phòng K Công an tỉnh H, kết luận Mẫu cần giám định ký hiệu A là ma túy, loại MDMA, có khối lượng 0,3135 gam (không phẩy ba nghìn một trăm ba mươi lăm gam). MDMA nằm trong danh mục I, mục IB, số thứ tự 11 Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Trước Cơ quan điều tra, Đỗ Mạnh C đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong, biên bản mở niêm phong và cân tịnh, biên bản khám nghiệm hiện trường (kèm theo sơ đồ và bản ảnh), cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Bản Cáo trạng số 01/CT-VKSKV4 ngày 16/7/2025, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Tuyên Quang truy tố bị cáo Đỗ Mạnh C, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo Đỗ Mạnh C đã thừa nhận toàn bộ hành vi như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Tuyên Quang đã truy tố. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của bị cáo tại cơ quan Cảnh sát điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các tài liệu thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4-Tuyên Quang giữ nguyên quyết định truy tố đối với Đỗ Mạnh C theo Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Mạnh C phạm tội"Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Mạnh C từ 02 năm đến 03 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ tạm giam ngày 15/4/2025.
Hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, do bị cáo là người lao động tự do không có thu nhập ổn định.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS
Tịch thu tiêu hủy vật chứng cấm lưu hành, không có giá trị sử dụng. Trả vật chứng không liên quan đến vụ án cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Không.
Về án phí: Bị cáo Đỗ Mạnh C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Tuyên Quang.
Bị cáo thực hiện quyền nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy việc làm của bị cáo đã vi phạm pháp luật, bị cáo rất hối hận, mong HĐXX cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên tòa người làm chứng anh Nguyễn Văn V, anh V1 Phàn Páo vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Xét thấy quá trình điều tra người làm chứng đã có lời khai ổn định tại giai đoạn điều tra; sự vắng mặt của những người này không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, căn cứ Điều 292 và 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
. Về căn cứ định tội, định khung hình phạt: Lời khai nhận tội của bị cáo Đỗ Mạnh C tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, Biên bản phạm tội quả tang; Kết luận giám định cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 23 giờ 30 phút, ngày 14/4/2025, tại trước cửa nhà nghỉ của nhà xe Q thuộc thôn C, xã P, thành phố H, tỉnh Hà Giang (cũ) nay là Tổ dân phố A N, phường H, tỉnh Tuyên Quang, bị cáo Đỗ Mạnh C đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,3135 gam (không phẩy ba nghìn một trăm ba lăm gam) ma túy loại MDMA với mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác của Công an phường N, thành phố H, tỉnh Hà Giang (cũ) nay là Công an phường H, tỉnh Tuyên Quang kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang, tạm giữ người cùng tang vật. Mục đích tàng trữ ma túy của C là để sử dụng cho bản thân. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai nhận tội tại cơ quan điều tra; biên bản khám nghiệm hiện trường; biên bản niêm phong; biên bản mở niêm phong và cân tịnh; kết luận giám định và các tài liệu đã được thu thập, phản ánh trong hồ sơ và được thẩm tra xác minh tại phiên toà. Như vậy, có đủ cơ sở để HĐXX kết luận bị cáo Đỗ Mạnh C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Điều luật quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
.....
c) Heroine, C1, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”
. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo H1 thấy rằng: Bị cáo là người có trình độ văn hóa 12/12 có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn bất chấp cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội và pháp luật xã hội chủ nghĩa. Ma túy là loại độc dược có tính gây nghiện cao nên Nhà nước độc quyền quản lý, nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển, chiếm đoạt, sử dụng các chất ma túy. Hành vi của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật, phạm tội với lỗi cố ý nên cần xử phạt bị cáo với một mức án nghiêm minh và hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định phù hợp với mức độ phạm tội của bị cáo, đủ thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội, biết tuân thủ pháp luật cũng như có tác dụng tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này. HĐXX cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo để quyết định hình phạt.
. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo Đỗ Mạnh C đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa ông Đỗ Minh H là bố đẻ của bị cáo Đỗ Mạnh C khai và xác nhận ông nội của bị cáo C là ông Đỗ Khắc N1 là người có công với cách mạng được tặng Huân chương khánh chiến chống Mỹ cứu nước; bản thân ông Đỗ Minh H tham gia cách mạng được tặng nhiều bằng khen, giấy khen đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2, Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
. Về nhân thân: Bị cáo Đỗ Mạnh C có nhân thân xấu, ngày 15/03/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 01 năm 06 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tuy bị cáo đã chấp hành xong quyết định của Bản án và đã được xóa án tích, không bị xem xét là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng bị cáo không lấy đó là bài học cho bản thân mà tiếp tục có hành vi vi phạm pháp luật. HĐXX cân nhắc về nhân thân khi lượng hình đối với bị cáo
Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam, khi kết thúc phiên tòa bị cáo bị xử hình phạt tù, HĐXX xét thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo theo quyết định tạm giam của HĐXX để đảm bảo thi hành án.
. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu 1 phần hoặc toàn bộ tài sản". Tuy nhiên theo tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thể hiện bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định. Vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy:
. Số vật chứng chưa xử lý thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy gồm: 01 (một) chiếc phong bì niêm phong kín, mặt trước có ghi "Vỏ bao gói và phong bì niêm phong cũ sau giám định", mặt sau có chữ ký, chữ viết của các thành phần tham gia niêm phong và 02 dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh H; 01 (một) chiếc phong bì niêm phong kín, mặt trước có ghi "Mẫu vật hoàn lại sau giám định ký hiệu A của Đỗ Mạnh C", mặt sau có chữ ký, chữ viết của các thành phần tham gia niêm phong và 02 dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh H. 01 (một) chiếc phong bì trắng mặt trước phong bì có ghi: "Chiếc điện thoại IPHONE 13 PROMAX màu vàng, màn hình cảm ứng tạm giữ của Đỗ Mạnh C"; mặt sau phong bì có chữ kỹ, chữ viết của các thành phần tham gia và 03 hình dấu tròn đỏ của Công an phường N, thành phố H, tỉnh Hà Giangang
. Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA SH, Màu sơn trắng, biển kiểm soát 22Y1-327.08 (đã qua sử dụng) và 01 Chiếc điện thoại IPHONE 13 PROMAX màu vàng, màn hình cảm ứng là tài sản đang tạm giữ của bị cáo Đỗ Mạnh C theo tài liệu có trong hồ sơ tại giai đoạn điều tra được làm rõ tại phiên tòa xác định hành vi phạm tội của bị cáo C không liên quan đến tài sản Cơ quan điều tra đã thu giữ là 01 điện thoại và 01chiếc xe nêu trên. HĐXX quyết định trả lại cho bị cáo Đỗ Mạnh C các tài sản là 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA SH, Màu sơn trắng, biển kiểm soát 22Y1-327.08 (đã qua sử dụng) và 01 Chiếc điện thoại IPHONE 13 PROMAX màu vàng, màn hình cảm ứng (đã qua sử dụng)
Vật chứng như biên bản bàn giao giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 - Tuyên Quang ngày 24/7/2025
Đối với người đàn ông tên T1 cho Đỗ Mạnh C ma túy: Quá trình điều tra Đỗ Mạnh C khai nhận bị cáo chỉ quen biết xã giao với người đàn ông này. Cơ quan Điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh chưa có kết quả nên đã tách vụ việc để tiếp tục xác minh, khi có đủ chứng cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật là có căn cứ. HĐXX không xem xét.
Đối với Nguyễn Văn V và Vàng Phàn P, quá trình điều tra xác định Nguyễn Văn V và V1 Phàn Páo có uống bia và đi cùng bị cáo tuy nhiên không biết việc C tàng trữ ma túy. Cơ quan điều tra không xem xét xử lý Nguyễn Văn V và Vàng P là có cơ sở, đúng quy định. HĐXX không xem xét.
. Đối với hành vi bị cáo Đỗ Mạnh C chở 02 người là anh Nguyễn Văn V và anh V1 Phàn Páo trên xe mô tô, không đội mũ bảo hiểm đã vi phạm điểm g, i khoản 2 Điều 7 Nghị định 168/2024/NĐ-CP Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông trong lĩnh vực giao thông đường bộ; trừ điểm, phục hồi điểm giấy phép lái xe. Do vậy, cần kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T xử phạt vi phạm hành chính đối với bị cáo Đỗ Mạnh C về hành vi chở theo 02 người trên xe mô tô, xe máy và chở người ngồi trên xe mô tô, xe máy không đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” khi điều kiển phương tiện xe máy tham gia giao thông đường bộ theo quy định của pháp luật.
. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Điều 21 và Điều 23 của Nghị Quyết 326/2016/ UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội; Bị cáo Đỗ Mạnh C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân Khu Vực 4-Tuyên Quang có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật và quan điểm của HĐXX nên được HĐXX chấp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, Điều 47, Điều 50, điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015; Điều 106; Điều 136; Điều 331, Điều 333 và Điều 337 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Mạnh C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đỗ Mạnh C 02 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, ngày 15/04/2025.
3. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) chiếc phong bì niêm phong kín, mặt trước có ghi "Vỏ bao gói và phong bì niêm phong cũ sau giám định", mặt sau có chữ ký, chữ viết của các thành phần tham gia niêm phong và 02 dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh H; 01 (một) chiếc phong bì niêm phong kín, mặt trước có ghi "Mẫu vật hoàn lại sau giám định ký hiệu A của Đỗ Mạnh C", mặt sau có chữ ký, chữ viết của các thành phần tham gia niêm phong và 02 dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh H. 01 (một) chiếc phong bì trắng mặt trước phong bì có ghi: "Chiếc điện thoại IPHONE 13 PROMAX màu vàng, màn hình cảm ứng tạm giữ của Đỗ Mạnh C"; mặt sau phong bì có chữ kỹ, chữ viết của các thành phần tham gia và 03 hình dấu tròn đỏ của Công an phường N, thành phố H, tỉnh Hà Giangang.
- Trả lại cho bị cáo Đỗ Mạnh C: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA SH, Màu sơn trắng, biển kiểm soát 22Y1-327.08 (đã qua sử dụng); 01 Chiếc điện thoại IPHONE 13 PROMAX màu vàng, màn hình cảm ứng (đã qua sử dụng);
Vật chứng như biên bản bàn giao giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 - Tuyên Quang ngày 24/7/2025.
4. Về án phí: Bị cáo Đỗ Mạnh C phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm báo cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
6. Kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T xử phạt vi phạm hành chính đối với bị cáo Đỗ Mạnh C về hành vi chở theo 02 người trên xe mô tô, xe máy và chở người ngồi trên xe mô tô, xe máy không đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” khi điều kiển phương tiện xe máy tham gia giao thông đường bộ theo quy định điểm g, i khoản 2 Điều 7 Nghị định 168/2024/NĐ-CP Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông trong lĩnh vực giao thông đường bộ;
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND tỉnh Tuyên Quang; - Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang; - VKSND khu vực 4- Tuyên Quang; - Công an tỉnh Tuyên Quang; - Trại tạm giam số 2 CA T.Tuyên Quang; - THADS tỉnh Tuyên Quang; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Xuân Đạt |