- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Phạm Nguyên D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung mộ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Nguyên D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 11/2025/HS-ST Ngày: 24-4-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T , TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chiến
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Văn Động
2. Bà Phan Thị Trúc Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Chi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T , tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T , tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Đông Vũ - Kiểm sát viên. o
Ngày 24 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T , tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 08/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2025/HSST-QĐ ngày 08 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:
Phạm Nguyên D - sinh ngày 09/8/1982. Giới tính: Nam;
Nơi cư trú: 500/4A T, khu phố 7, phường A, thành phố R , tỉnh Kiên Giang. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: 5/12. Con ông Phạm Nguyên Đ, sinh năm 1950 và bà Tăng Thị Tuyết M, sinh năm 1960 (chết).
Tiền sự: Không. Tiền án: 02 tiền án:
Ngày 29/6/2007 bị Toà án nhân dân thành phố R , tỉnh Kiên Giang xử phạt 08 năm 06 tháng tù, về tội Mua bán trái phép chất ma tuý theo bản án số 79/2007/HS-ST. Trong quá trình chấp hành án tại trại giam Cái Tàu – Bộ Công an, thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng. Ngày 13/4/2015 bị Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau xử phạt 02 năm tù theo bản án số 10/2015/HS-ST, (tổng hợp hình phạt chung của 02 bản án là 10 năm 06 tháng). Ngày 18/5/2017 chấp hành xong hình phạt (chưa xoá án tích)
Ngày 22/8/2018 bị Toà án nhân dân thành phố R , tỉnh Kiên Giang xử phạt 07 năm tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Ngày 12/12/2023 chấp hành xong hình phạt (chưa xoá án tích).
Nhân thân:
Ngày 17/4/1998 bị Toà án nhân dân quận B, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản, thời hạn tù bằng thời hạn tạm giam nên được trả tự do tại toà (đã xoá án tích).
Ngày 04/5/2001 bị Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Kiên Giang xử phạt 24 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 27/12/2002 chấp hành xong hình phạt (đã xoá án tích).
Ngày 21/10/2024 thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý bị bắt quả tang và tạm giữ, đến ngày 29/10/2024 chuyển tạm giam đến nay. (bị cáo có mặt).
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Dương Văn Ú , sinh năm 1992 (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: ấp S, xã N, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
* Người chứng kiến:
Nguyễn Hồng T, sinh năm 1963 (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: ấp Đ , xã T , huyện T , tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ 00 phút ngày 21/10/2024, tại phòng số 106 nhà nghỉ Khánh Ngọc thuộc ấp Đ , xã T , huyện T , tỉnh Kiên Giang, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T phối hợp cùng Công an xã T bắt quả tang Phạm Nguyên D đang tàng trữ trái phép chất ma túy, kiểm tra thu giữ trong túi xách màu đỏ của D: 06 (sáu) bịch nylon nhiều kích cỡ bên trong có chứa chất ma tuý cùng nhiều vật chứng khác.
Quá trình điều tra xác định, Phạm Nguyên D là người nghiện ma tuý, D có 02 tiền án chưa được xoá án tích về các tội ma tuý. Vào khoảng 17 giờ 00 phút ngày 19/10/2024, khi D đang ở tại phòng số 106 nhà nghỉ Khánh Ngọc thuộc ấp Đ , xã T , huyện T , tỉnh Kiên Giang thì có 01 đối tượng tên Tuấn (chưa xác định được họ tên, địa chỉ) là bạn của D đến chơi. Do thấy Tuấn có ma tuý đá nên D hỏi mua với số tiền 2.000.000 đồng thì Tuấn đồng ý bán sau đó Tuấn giao ma tuý cho D và D đưa cho Tuấn 2.000.000 đồng. Sau khi bán ma tuý xong thì Tuấn bỏ đi, còn D lấy ra 01 ít để sử dụng rồi chia số ma tuý còn lại thành 05 bịch nhỏ, 01 bịch lớn và cất giấu trong túi xách màu đỏ. Đến khoảng 10 giờ ngày 21/10/2024, lực lượng Công an đến nhà nghỉ Khánh Ngọc kiểm tra phòng 106, khi mở cửa nhìn thấy lực lượng chức năng lo sợ bị phát hiện nên D lập tức quay vào phòng lấy cái túi xách màu đỏ bên trong chứa nhiều bịch ma tuý ném ra ngoài cửa thông gió, sau đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T phối hợp cùng Công an xã T khống chế bắt giữ D về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Ngày 29/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh tạm giam đối với Phạm Nguyên D. Quá trình điều tra, truy tố, bị can thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
* Việc thu giữ tài liệu, đồ vật: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã thu giữ và niêm phong các vật chứng gồm:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi A3 màu xanh, kiểu máy 23129RN51X;
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu tím, kiểu máy PJU110;
- 12 (mười hai) bịch nylon có rãnh gài viền màu đỏ kích thước 09cm x 5cm bên ngoài có ghi chữ “Sáng” bằng mực đen, bên trong mỗi bịch có 01 (một) viên thuốc nhộng màu đen – tím; 01 (một) viên nén màu cam có in chữ “AT”; 01 (một) viên thuốc nhộng màu trắng đen; ½ (một nửa) viên thuốc nén màu hồng; ½ (một nửa) viên thuốc nén bên ngoài màu xanh bên trong màu trắng; 01 (một) viên thuốc nén màu trắng ở giữa viên có một khía;
- 11 (mười một) bịch nylon có rãnh gài viền màu đỏ kích thước 09cm x 5cm bên ngoài có ghi chữ “Chiều” bằng mực đen, bên trong mỗi bịch có 01 (một) viên thuốc nhộng màu cam; 01 (một) viên thuốc nhộng màu nâu tím; 01 (một) viên thuốc nhộng màu trắng đen; ½ (một nửa) viên thuốc nén hồng; ½ (một nửa) viên thuốc nén bên ngoài màu xanh bên trong màu trắng; 01 (một) viên thuốc nén màu trắng ở giữa viên có một khía;
- 01 (một) túi xách màu đỏ bằng vải nylon, có dây đeo chéo màu đỏ;
- 01 (một) bịch nylon trong suốt được hàn kín kích thước 3,3cm x 2,9cm bên trong có chứa các hạt tinh thể trong suốt nghi là ma tuý;
- 01 (một) bịch nylon trong suốt được hàn kín kích thước 2,8cm x 2,4cm bên trong có chứa các hạt tinh thể trong suốt nghi là ma tuý;
- 01 (một) bịch nylon trong suốt được hàn kín kích thước 03cm x 03cm bên trong có chứa các hạt tinh thể trong suốt nghi là ma tuý;
- 01 (một) bịch nylon trong suốt được hàn kín kích thước 2,9cm x 2,3cm bên trong có chứa các hạt tinh thể trong suốt nghi là ma tuý;
- 01 (một) hộp nhựa màu xanh dương kích thước 8,5 cm x 4,5 cm x 1,5 cm bên trong có chứa 01 (một) bịch nylon trong suốt hở một đầu kích thước 06 cm x 6,8 cm bên trong có chứa các hạt tinh thể trong suốt nghi là ma tuý;
- 01 (một) lọ thuốc dạng xịt màu trắng trên thân chai thuốc có chữ Berodual;
- 01 (một) cây kéo bằng kim loại màu trắng có chiều dài 8,6 cm;
- 01 (một) cục sạc dự phòng màu xanh hiệu ROBOT;
- 01 (một) chai thuốc nhỏ mắt có chữ V.ROHTO COOL;
- 01 (một) bật lửa màu trắng bị hỏng có chiều dài 6,2 cm;
- 01 (một) đoạn ống thuỷ tinh có chiều dài đo được là 4,9 cm bên trong có chứa tinh thể màu nâu nghi là ma tuý;
- 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu JET chứa 01 (một) bịch nylon có chữ 9D Mast kích thước 15 cm x 10 cm bên trong có chứa các hạt tinh thể nghi là ma tuý;
- 01 (một) cây khò gas màu xanh đen có chiều dài 12,2 cm đã qua sử dụng;
- 01 (một) đoạn ống thuỷ tinh có chiều dài 9,5 cm có một đầu bằng một đầu bị vỡ đường kính 0,5 cm;
- 01 (một) chai thuỷ tinh bị vỡ đầu có nhãn hiệu “CHIVASREGAL 12”;
- 01 (một) ống hút nhựa màu trắng có chiều dài đo được là 24 cm;
- 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Exciter màu đỏ-đen-bạc, biển số 68X1-162.20 đã qua sử dụng.
* Tại Kết luận giám định số 1154/KL-KTHS ngày 28/10/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Kiên Giang kết luận:
- Mẫu 01:
+ Các hạt tinh thể, không đồng nhất chứa trong 04 (bốn) bịch nylon trong suốt được hàn kín, có kích thước lần lượt: 3,3 cm x 2,9 cm; 2,8 cm x 2,4 cm; 03 cm x 03 cm; 2,9 cm x 2,3 cm được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 3,6496 gam.
+ Các hạt tinh thể, không đồng nhất chứa trong 01 (một) bịch nylon trong suốt hở một đầu, có kích thước 06 cm x 6,8 cm được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 2,8948 gam.
- Mẫu 02: Chất bám dính chứa trong 01 (một) đoạn ống thủy tinh được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,3104 gam.
- Mẫu 03: Các hạt tinh thể, không đồng nhất chứa trong 01 (một) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng gửi giám định là 0,7348 gam.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
* Cáo trạng số 09/CT-VKSTH ngày 14/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T , tỉnh Kiên Giang truy tố bị cáo Phạm Nguyên D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g, o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích và đánh giá mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên xử bị cáo Phạm Nguyên D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
* Áp dụng: điểm g, o khoản 2 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Phạm Nguyên D mức án từ 06 năm đến 07 năm tù.
Về hình phạt bổ sung: do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, nên đề nghị miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
* Xử lý vật chứng: Đối với vật chứng không liên quan đến hành vi phạm tội Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho chủ sở hữu gồm:
Trả lại cho bị cáo Phạm Nguyên Duy:
+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi A3 màu xanh, kiểu máy 23129RN51X, đã qua sử dụng;
+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu tím, kiểu máy PJU110, đã qua sử dụng;
+ 12 (mười hai) bịch nylon có rãnh gài viền màu đỏ kích thước 09cm x 5cm bên ngoài có ghi chữ “Sáng” bằng mực đen, bên trong mỗi bịch có 01 (một) viên thuốc nhộng màu đen – tím; 01 (một) viên nén màu cam có in chữ “AT”; 01 (một) viên thuốc nhộng màu trắng đen; ½ (một nửa) viên thuốc nén màu hồng; ½ (một nửa) viên thuốc nén bên ngoài màu xanh bên trong màu trắng; 01 (một) viên thuốc nén màu trắng ở giữa viên có một khía;
+ 11 (mười một) bịch nylon có rãnh gài viền màu đỏ kích thước 09cm x 5cm bên ngoài có ghi chữ “Chiều” bằng mực đen, bên trong mỗi bịch có 01 (một) viên thuốc nhộng màu cam; 01 (một) viên thuốc nhộng màu nâu tím; 01 (một) viên thuốc nhộng màu trắng đen; ½ (một nửa) viên thuốc nén hồng; ½ (một nửa) viên thuốc nén bên ngoài màu xanh bên trong màu trắng; 01 (một) viên thuốc nén màu trắng ở giữa viên có một khía;
+ 01 (một) lọ thuốc dạng xịt màu trắng trên thân chai thuốc có chữ Berodual;
+ 01 (một) cục sạc dự phòng màu xanh hiệu ROBOT;
+ 01 (một) chai thuốc nhỏ mắt có chữ V.ROHTO COOL;
Trả lại cho ông Dương Văn Ú : 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Exciter màu đỏ-đen-bạc, biển số 68X1-162.20 đã qua sử dụng. Qua xác minh, đây là tài sản của ông Dương Văn Ú , bị cáo là người mượn để sử dụng.
Theo Quyết định xử lý vật chứng số 675 ngày 26/11/2024 của Cơ quan CSĐT Công an huyện T .
- Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy các vật chứng của vụ án gồm:
+ Mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong có chữ ký ghi họ tên giám định viên Nguyễn Hoàng Nam, người chứng kiến niêm phong Võ Thanh Phong và hình dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang, gồm:
Mẫu 01: Mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 1178/2024 Mẫu 01. Bên trong gồm bao gói đựng mẫu (01 (một) hộp nhựa màu xanh dương kích thước 8,5 cm x 4,5 cm x 1,5 cm) và các hạt tinh thể có khối lượng là 3,5999 gam, được đựng trong 01 (một) bịch nylon; Các hạt tinh thể có khối lượng là 2,8593 gam, đựng trong 01 (một) bịch nylon;
Mẫu 02: Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng là 0,2762 gam đựng trong một bịch nylon và 01 (một) đoạn ống thuỷ tinh có chiều dài đoạn đo được là 4,9 cm, được niêm phong trong 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 1178/2024 Mẫu 02;
Mẫu 03: Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng là 0,6923 gam đựng trong một bịch nylon và bao gói đựng mẫu (một (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu JET chứa 01 (một) bịch nylon có chữ 9D Mast kích thước 15cm x 10cm) được niêm phong trong 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 1178/2024 Mẫu 03;
+ 01 (một) túi xách màu đỏ bằng vải nylon, có dây đeo chéo màu đỏ;
+ 01 (một) cây kéo bằng kim loại màu trắng có chiều dài 8,6 cm;
+ 01 (một) bật lửa màu trắng bị hỏng có chiều dài 6,2 cm;
+ 01 (một) đoạn ống thuỷ tinh dài 4,5 cm, có đường kính lớn nhất 2,5 cm;
+ 01 (một) đoạn ống thuỷ tinh có chiều dài 9,5 cm có một đầu bằng một đầu bị vỡ đường kính 0,5 cm;
+ 01 (một) chai thuỷ tinh bị vỡ đầu có nhãn hiệu “CHIVASREGAL 12”;
+ 01 (một) ống hút nhựa màu trắng có chiều dài đo được là 24 cm;
+ 01 (một) cây khò gas màu xanh đen có chiều dài 12,2 cm đã qua sử dụng.
Theo lệnh nhập kho vật chứng số 208 ngày 24/11/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T .
Tại phần nói lời sau cùng, bị cáo đã nhận thức rõ hành vi của mình và hối hận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T , Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T , Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, với nội dung Cáo trạng, kết luận điều tra, cùng các chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ và vật chứng đã thu giữ. Từ đó có đủ cơ sở kết luận:
Vào lúc 10 giờ ngày 21/10/2024, tại phòng số 106 nhà nghỉ Khánh Ngọc thuộc ấp Đ , xã T , huyện T , tỉnh Kiên Giang. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T phối hợp Công an xã T bắt quả tang bị cáo Phạm Nguyên D có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy trong túi xách màu đỏ 06 (sáu) bịch nylon và 01 đoạn ống thuỷ tinh bên trong là ma túy loại Methamphetamine có khối lượng là 7,5896 gam, nhằm mục đích sử dụng.
Theo kết luận giám định số 1154/KL-KTHS ngày 28/10/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang kết luận: Các hạt tinh thể, không đồng nhất chứa trong 06 (sáu) bịch nylon và chất bám dính chứa trong 01 đoạn ống thuỷ tinh được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu gửi giám định là 7,5896 gam.
Bị cáo có nhân thân xấu, đã có 2 tiền án. Ngày 29/6/2007 bị Tòa án nhân dân thành phố R , tỉnh Kiên Giang, xử phạt 08 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo Bản án số 79/2007/HS-ST. Ngày 13/4/2015 bị Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau xử phạt 02 năm tù, về tội Gây rối trật tự công cộng theo bản án số 10/2015/HS-ST, bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 18/5/2017 (chưa xóa án tích). Ngày 22/8/2018 bị Toà án nhân dân thành phố R , tỉnh Kiên Giang xử phạt 07 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, với tình tiết định khung tái phạm nguy hiểm theo khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự, theo Bản án số 129/2018/ HS-ST, ngày 12/12/2023 chấp hành xong hình phạt (chưa xoá án tích), nay lại tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý nên thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm” là tình tiết định khung trách nhiệm hình sự quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g, o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét về tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy, xâm phạm trật tự trị an xã hội, tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra cho thấy bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo biết ma túy là chất gây nghiện đặc biệt nguy hiểm, tàn phá sức khỏe của người sử dụng và làm suy giảm giống nòi, là nguyên nhân gây ra nhiều tệ nạn xã hội và phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Dù không nhằm mục đích vụ lợi, nhưng vì muốn được thỏa mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo đã bất chấp pháp luật và hậu quả mua ma túy về tàng trữ sử dụng một cách trái pháp luật.
Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc khi lượng hình.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu, tiêu hủy: Mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong có chữ ký ghi họ tên giám định viên Nguyễn Hoàng Nam, người chứng kiến niêm phong Võ Thanh Phong và hình dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang, gồm:
Mẫu 01: Mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 1178/2024 Mẫu 01. Bên trong gồm bao gói đựng mẫu (01 (một) hộp nhựa màu xanh dương kích thước 8,5 cm x 4,5 cm x 1,5 cm) và các hạt tinh thể có khối lượng là 3,5999 gam, được đựng trong 01 (một) bịch nylon; Các hạt tinh thể có khối lượng là 2,8593 gam, đựng trong 01 (một) bịch nylon;
Mẫu 02: Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng là 0,2762 gam đựng trong một bịch nylon và 01 (một) đoạn ống thuỷ tinh có chiều dài đoạn đo được là 4,9 cm, được niêm phong trong 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 1178/2024 Mẫu 02;
Mẫu 03: Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng là 0,6923 gam đựng trong một bịch nylon và bao gói đựng mẫu (một (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu JET chứa 01 (một) bịch nylon có chữ 9D Mast kích thước 15cm x 10cm) được niêm phong trong 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 1178/2024 Mẫu 03;
+ 01 (một) túi xách màu đỏ bằng vải nylon, có dây đeo chéo màu đỏ;
+ 01 (một) cây kéo bằng kim loại màu trắng có chiều dài 8,6 cm;
+ 01 (một) bật lửa màu trắng bị hỏng có chiều dài 6,2 cm;
+ 01 (một) đoạn ống thuỷ tinh dài 4,5 cm, có đường kính lớn nhất 2,5 cm;
+ 01 (một) đoạn ống thuỷ tinh có chiều dài 9,5 cm có một đầu bằng một đầu bị vỡ đường kính 0,5 cm;
+ 01 (một) chai thuỷ tinh bị vỡ đầu có nhãn hiệu “CHIVASREGAL 12”;
+ 01 (một) ống hút nhựa màu trắng có chiều dài đo được là 24 cm;
+ 01 (một) cây khò gas màu xanh đen có chiều dài 12,2 cm đã qua sử dụng, do các vật chứng dùng vào việc phạm tội.
- Ghi nhận việc Cơ quan điều tra đã trả lại các vật chứng theo Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 675 ngày 26/11/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T cho chủ sở hữu là phù hợp, nên không xem xét.
Đối với người đàn ông tên Tuấn đã bán ma túy cho bị cáo, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh làm rõ tuy nhiên chưa xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng này nên yêu Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra, làm rõ, nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.
Đối với hành vi tàng trữ 02 đơn vị dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma tuý của bị cáo Phạm Nguyên D chưa đủ định lượng để xử lý về tội tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma tuý theo quy định tại Điều 254 Bộ luật hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với D, là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Nguyên D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: điểm g, o khoản 2 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Nguyên D 06 (sáu) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 21/10/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy: Mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong có chữ ký ghi họ tên giám định viên Nguyễn Hoàng Nam, người chứng kiến niêm phong Võ Thanh Phong và hình dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang, gồm:
Mẫu 01: Mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 1178/2024 Mẫu 01. Bên trong gồm bao gói đựng mẫu (01 (một) hộp nhựa màu xanh dương kích thước 8,5 cm x 4,5 cm x 1,5 cm) và các hạt tinh thể có khối lượng là 3,5999 gam, được đựng trong 01 (một) bịch nylon; Các hạt tinh thể có khối lượng là 2,8593 gam, đựng trong 01 (một) bịch nylon;
Mẫu 02: Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng là 0,2762 gam đựng trong một bịch nylon và 01 (một) đoạn ống thuỷ tinh có chiều dài đoạn đo được là 4,9 cm, được niêm phong trong 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 1178/2024 Mẫu 02;
Mẫu 03: Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng là 0,6923 gam đựng trong một bịch nylon và bao gói đựng mẫu (một (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu JET chứa 01 (một) bịch nylon có chữ 9D Mast kích thước 15cm x 10cm) được niêm phong trong 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 1178/2024 Mẫu 03;
+ 01 (một) túi xách màu đỏ bằng vải nylon, có dây đeo chéo màu đỏ;
+ 01 (một) cây kéo bằng kim loại màu trắng có chiều dài 8,6 cm;
+ 01 (một) bật lửa màu trắng bị hỏng có chiều dài 6,2 cm;
+ 01 (một) đoạn ống thuỷ tinh dài 4,5 cm, có đường kính lớn nhất 2,5 cm;
+ 01 (một) đoạn ống thuỷ tinh có chiều dài 9,5 cm có một đầu bằng một đầu bị vỡ đường kính 0,5 cm;
+ 01 (một) chai thuỷ tinh bị vỡ đầu có nhãn hiệu “CHIVASREGAL 12”;
+ 01 (một) ống hút nhựa màu trắng có chiều dài đo được là 24 cm;
+ 01 (một) cây khò gas màu xanh đen có chiều dài 12,2 cm đã qua sử dụng.
Các vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện T đang quản lý theo quyết định chuyển vật chứng số 07/QĐ-VKSTH ngày 14/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T , tỉnh Kiên Giang.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Phạm Nguyên D phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện T ; - Chi cục THADS huyện T ; - Công an tỉnh Kiên Giang; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Chiến |