vanban.org

Bản án 11/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước Tuyên án 25/02/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu C phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 255; khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 19/9/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu C phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 255 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN PHÚ RIỀNG
TỈNH BÌNH PHƢỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2025/HS-ST
Ngày: 24-02-2025

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ RIỀNG

THnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Bà Đinh Thị Hải

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Khải

Ông Phạm Văn Khuyến

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Đào – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Nông Quang Chung - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 09/2025/HSST ngày 13 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Hữu C, Tên gọi khác: Không có

Giới tính: Nam

Sinh ngày 01/01/1996 tại Kiên Giang

Nơi đăng ký HKTT: Ấp M, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang

Nơi ở hiện tại: Thôn 10, xã L, huyện P, tỉnh Bình Phước.

Nghề nghiệp: Lao động tự do

Trình độ học vấn 3/12

Quốc tịch Việt Nam

Dân tộc: Kinh

Tôn giáo: Không

Con ông Nguyễn Hữu P – sinh năm 1976 và bà Trần Thị N – sinh năm 1974

Vợ: Lê Thị M – sinh năm 1992

và 01 con sinh năm 2016

Tiền sự: Không

Tiền án: Ngày 06/11/2020, bị Toà án nhân dân huyện A, tỉnh Kiên Giang xử phạt 04 tháng 17 ngày tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 29/2020/HSST. Bị cáo chưa chấp Hnh phần án phí hình sự sơ thẩm, số tiền 200.000 đồng.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/92024 đến nay tại NH tạm giữ Công an huyện Phú Riềng. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tối ngày 18/9/2024, Nguyễn Hữu C đến quán bánh xèo thuộc chợ cũ Phước Bình để uống rượu. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, sau khi uống rượu xong, C điện thoại nhờ Lê Quang T – sinh năm 1997, địa chỉ: Thôn P, xã Bình Tân, huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước đến chở C về nH tại thôn 10, xã Long Hưng, huyện Phú Riềng. Một lúc sau, T điều khiển xe mô tô biển số 61B1 – 887.81 đến, C điều khiển xe và chở T đi về. Trên đường đi, C rủ T cùng sử dụng ma túy đá thì T đồng ý nên C chở theo T đến nH Cao Thị Bích L (tên thường gọi là Thảo) tại thôn Bình Minh, xã Bình Sơn, huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước mua ma túy. Khi đến nH L, C dừng xe để T đứng đợi bên ngoài còn C một mình đi vào gặp một thanh niên tên Điểu H mua 200.000 đồng ma túy đá (Methamphetamine) thì H đồng ý bán. C đưa cho H 200.000 đồng, H đưa lại cho C 01 đoạn ống hút màu trắng bên trong chứa ma túy đá. Sau khi mua được ma túy, C đổ ma túy vào dụng cụ sử dụng ma túy đá (do C mang theo trên người) rồi cất vào một hộp nhựa màu đen và điều khiển xe chở T đến 01 vườn điều thuộc thôn 7, xã Long Hưng, huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước để cùng nhau sử dụng. Sau khi sử dụng ma túy xong, C tiếp tục điều khiển xe chở T về nH, khi đến đoạn bờ hồ thuộc thôn 7, xã Long Hưng, huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước thì bị lực lượng Công an huyện Phú Riềng đang tuần tra phát hiện trên người C có mang theo dụng cụ sử dụng ma túy đưa về trụ sở Công an xã Long Hưng làm việc. Tại đây C và T đã khai nhận toàn bộ Hnh vi như trên, lực lượng Công an đã tiến Hnh lập biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú đối với Nguyễn Hữu C.

Tại Kết luận giám định số 1015/KL-KTHS ngày 25/9/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước kết luận: Chất màu nâu (ký hiệu M) bám dính bên trong ống thủy tinh được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là M = 0,0442 gam.

Tại Bản cáo trạng số 09/CT-VKSPR ngày 07/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Riềng đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu C về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận Hnh vi phạm tội như trên và xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng trong vụ án.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo;

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Về Hnh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về Hnh vi, quyết định của Cơ quan tiến Hnh tố tụng, người tiến Hnh tố tụng. Do đó, các Hnh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến Hnh tố tụng, người tiến Hnh tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người có Hnh vi phạm tội quả tang, vật chứng của vụ án, kết luận giám định chất ma túy và các tài liệu, chứng cứ khác được thẩm tra tại phiên tòa. Trên cơ sở đó đã xác định được: Ngày 18/9/2024, Nguyễn Hữu C có Hnh vi mua 200.000 đồng ma túy loại Methamphetamine của Điểu H tại thôn Bình Minh, xã Bình Sơn, huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước, sau đó cung cấp ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy (nỏ) để Lê Quang T cùng sử dụng ma tuý với C tại 01 vườn điều thuộc thôn 7, xã Long Hưng, huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước.

Hnh vi bị cáo Nguyễn Hữu C thực hiện đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Hnh vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nH nước về cất giữ chất ma túy. Bị cáo là người đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có đủ nhận thức về tác hại của việc sử dụng trái phép chất ma túy sẽ gây ảnh hưởng rất xấu đối với sức khỏe con người và là nguyên nhân trực tiếp gây ra nhiều tội phạm và các tệ nạn xã hội khác, làm mất an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

* Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 06/11/2020, bị cáo bị Toà án nhân dân huyện A, tỉnh Kiên Giang xử phạt 04 tháng 17 ngày tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 29/2020/HSST. Bị cáo chưa chấp Hnh phần án phí hình sự sơ thẩm, số tiền 200.000 đồng. Do đó, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

* Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo tHnh khẩn khai báo, bị cáo ra đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, cần giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo thấy được tính khoan hồng của pháp luật.

Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ Hnh vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 điện thoại di động Vsmart màu xám đen: Quá trình điều tra và tại phiên toà đã làm rõ đây là điện thoại của bị cáo, bị cáo không sử dụng vào việc thực hiện Hnh vi phạm tội ngày 18/9/2024 nên cần trả lại cho bị cáo.

Đối với 01 hộp nhựa hình trụ, bên trên hộp nhựa có ghi chữ “Love yêu”, “Ko phận sự cấm mở xin cảm ơn”, “C Khởi, Tà Đông”; 02 quẹt ga; 01 ống hút nhựa màu trắng dài 03cm; 01 lưỡi dao rọc giấy; 01 nắp nhựa màu đỏ được đục thủng 02 lỗ; 01 đoạn ống nhựa màu trắng dài 4,4cm, đường kính 0,7cm và nối thêm 01 đoạn ống nhựa màu trắng dài 20,5cm đường kính 0,4cm; 01 ống thủy tinh có đoạn thẳng dài 07cm và có phần cuối bị uốn cong dài 3,5cm, phía cuối bị uốn cong phình to hình cầu bên trên có 01 lỗ hở, bên trong có bám dính chất rắn màu xám nâu. Bị cáo C và T sử dụng vào việc sử dụng trái phép chất ma tuý nên cần tịch thu, tiêu huỷ.

Đối với xe mô tô Dream biển số 61B1 – 887.81 qua điều tra chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Phú Riềng tiếp tục xác minh để xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với Điểu H là người bán ma túy cho bị cáo vào ngày 18/9/2024, hiện tại H đã bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Phú Riềng khởi tố và xử lý ở 01 vụ án khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.

Đối với Lê Quang T có Hnh vi sử dụng trái phép chất ma túy cùng với bị cáo vào ngày 18/9/2024, Công an huyện Phú Riềng đang củng cố hồ sơ để đưa T vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc là phù hợp quy định pháp luật.

Đối với Cao Thị Bích L, qua lời khai của bị cáo, L đã từng 01 lần bán ma túy cho bị cáo. Ngày 18/9/2024, khi bị cáo đến nH L mua ma túy thì gặp H và trực tiếp mua ma túy từ H. Qua đấu tranh, L không thừa nhận đã bán ma túy cho C. Ngoài lời khai của bị cáo thì không còn chứng cứ khác để chứng minh Hnh vi phạm tội của L nên chưa đủ căn cứ để xử lý đối với L trong vụ án này, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh để xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu C phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 255; khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 19/9/2024.

2. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu và tiêu hủy 01 hộp nhựa hình trụ, bên trên hộp nhựa có ghi chữ “Love yêu”, “Ko phận sự cấm mở xin cảm ơn”, “C Khởi, Tà Đông”; 02 bật lửa ga; 01 ống hút nhựa màu trắng dài 03cm; 01 lưỡi dao lam rọc giấy; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý gồm: 01 đoạn ống nhựa màu trắng dài 4,4cm nối thêm 01 đoạn ống hút màu trắng dài 20,5cm; 01 chai nước nhãn hiệu Sting nắp chai được đục 02 lỗ và 01 nỏ thuỷ tinh một đầu uốn cong hình cầu.

Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart màu xám đen.

(Tình trạng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 24 ngày 13/02/2025 giữa Công an huyện Phú Riềng và Chi cục thi Hnh án dân sự huyện Phú Riềng).

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết về án phí, lệ phí: Buộc bị cáo Nguyễn Hữu C phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

Bị cáo có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ