vanban.org

Bản án 11/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình Tuyên án 17/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh, hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Hà Văn Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Xử phạt bị cáo Hà Văn Q 16 tháng tù. Thời hạn tính từ ngày tạm giữ 23/9/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Văn Q - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh, hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MAI CHÂU
TỈNH HOÀ BÌNH
–––––––––––
Bản án số: 11/2025/HS-ST
Ngày: 17-01-2025.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI CHÂU, TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Tùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Kiều Hoa;

Ông Vì Văn Tùng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Văn Cao – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Ông Bùi Bảo Đại - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 01 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 67/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 05/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Hà Văn Q, sinh ngày 03 tháng 12 năm 1978, tại huyện M, tỉnh Hòa Bình; nơi cư trú: Xóm P, xã C, huyện M, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn T (đã chết) và bà Hà Thị N, sinh năm 1954; bị cáo có vợ là Hà Thị H, sinh năm 1981 và có 02 con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2008.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 24/8/2017, Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 18 tháng theo Quyết định số: 07/QĐ-TA (chấp hành xong ngày 01/02/2019).

Bị cáo khai có sử dụng, nghiện chất ma túy. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/9/2024, chuyển tạm giam từ ngày 01/10/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Hà Văn L, sinh năm 2000; nghề nghiệp: Lao động tự do; nơi cư trú: Xóm P, xã C, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 23/9/2024, Tổ công tác Công an xã Sơn Thủy, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình phối hợp với Công an xã Cun Pheo, Công an xã Bao La, Công an xã Xăm Khòe, Công an xã Thành Sơn và Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự, kinh tế, ma tuý Công an huyện Mai Châu đang làm nhiệm vụ tại xóm Pheo, xã Cun Pheo thì phát hiện Hà Văn Q, sinh năm 1978, nơi cư trú: Xóm P, xã C, huyện M, tỉnh Hòa Bình đang điều khiển xe mô tô biểm kiểm soát 28M1-110.xx có nhiều biểu hiện nghi vấn nên Tổ công tác đã yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Quá trình kiểm tra phát hiện trong lòng bàn tay trái của Q có cầm 01 gói nilon màu vàng, bên trong có chứa 02 viên nén màu hồng và chất bột dạng cục màu trắng, Q khai nhận đó là ma túy. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng theo quy định. Tại Cơ quan điều tra Hà Văn Q khai nhận về nguồn gốc số ma túy trên như sau: Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 23/9/2024, Hà Văn Q một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 28M1-110.xx từ nhà đi lên khu vực xóm Táu Nà, xã Cun Pheo, huyện Mai Châu để tìm mua thuốc nam nhưng không mua được. Sau đó, Q nảy sinh ý định đi lên khu vực xóm Thung Mặn, xã Hang Kia để tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Khi đến đoạn đường dân sinh thuộc xóm Thung Mặn, xã Hang Kia thì Q gặp một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết, Q hỏi và mua được 01 gói ma túy hết số tiền 100.000 đồng với người đàn ông này. Sau khi mua được ma túy, Q cầm trong lòng bàn tay trái và điều khiển xe mô tô đi về nhà, khoảng 20 giờ 00 phút ngày 23/9/2024 khi đi đến xóm Pheo, xã Cun Pheo thì bị Tổ công tác Công an xã Sơn Thủy, huyện Mai Châu phối hợp với Công an xã Cun Pheo, Công an xã Bao La, Công an xã Xăm Khòe, Công an xã Thành Sơn và Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự, kinh tế, ma tuý Công an huyện Mai Châu bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng theo quy định.

Tại Kết luận giám định số: 504/KL-KTTS ngày 30/9/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình kết luận:

- 02 viên nén màu hồng ký hiệu A1 trong phong bì niêm phong một mặt có ghi “Vật chứng thu giữ của: Hà Văn Q, SN: 1978, trú tại: xóm P, xã C, huyện M, tỉnh Hòa Bình; HV: Tàng trữ trái phép chất ma túy” gửi giám định có tổng khối lượng 0,19g (Không phẩy mười chín gam) là ma túy, loại Methamphetamine;

- Chất bột dạng cục màu trắng ký hiệu A2 trong phong bì niêm phong một mặt có ghi “Vật chứng thu giữ của: Hà Văn Q, SN: 1978, trú tại: xóm P, xã C, huyện Mai C, tỉnh Hòa Bình; HV: Tàng trữ trái phép chất ma túy” gửi giám định có tổng khối lượng 0,14g (Không phẩy mười bốn gam) là ma túy, loại Heroine (Heroin)”.

Tại bản Cáo trạng số: 06/CT-VKSMC ngày 27 tháng 12 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu truy tố Hà Văn Q về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu luận tội giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh, hình phạt: Đề nghị tuyên bố bị cáo Hà Văn Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt Hà Văn Q từ 14 tháng đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 23/9/2024.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng sử dụng, nghiện chất ma túy, không có việc làm ổn định, không có điều kiện thi hành nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị:

- Tuyên tịch thu toàn bộ số ma túy thu được, sau khi giám định số còn lại đã hoàn trả, để tiêu hủy.

Về vấn đề khác:

- Đối với người mà Hà Văn Q khai đã bán ma tuý cho Quyển, kết quả điều tra không xác định được tên tuổi, địa chỉ của người này, không xác định được là ai nên không có căn cứ đề nghị xử lý.

- Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 28M1-110.xx màu xanh, nhãn hiệu HONDA BLADE; đăng ký xe mang tên Hà Văn L, sinh năm 2000, địa chỉ: Xóm P, xã C, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Kết quả điều tra xác định xe mô tô trên thuộc sở hữu hợp pháp của Hà Văn L (con trai bị cáo), việc Quyển dùng xe mô tô trên để đi mua ma túy L không biết, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, nên đề nghị Hội đồng xét xử trả lại xe cho anh Hà Văn L.

Đề nghị áp dụng khoản 1 và khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử tuyên về phần án phí và quyền kháng cáo.

Ý kiến của bị cáo: Bị cáo đã nhận được các văn bản tố tụng của Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án, quá trình điều tra, truy tố xét xử bị cáo đã được phổ biến quyền và nghĩa vụ, không bị ép cung, mớm cung, bị cáo đồng ý với nội dung Cáo trạng và Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, bị cáo không thuê Luật sư hoặc nhờ trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho mình, do nghiện ma túy nên bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng, ngoài ra không có mục đích gì khác, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 28M1-110.xx mà bị cáo dùng để đi tìm mua ma túy thì con trai bị cáo là Hà Văn L là chủ sở hữu hợp pháp, việc đi tìm mua ma túy con trai bị cáo không biết, không liên quan đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho Hà Văn L. Bị cáo không làm đơn xin miễn án phí, bị cáo sẽ tự nguyện nộp theo quy định.

Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Hà Văn L: Ngày 23/9/2024, bố của anh L là bị cáo Hà Văn Q có hỏi mượn xe mô tô 28M1-110.xx của L bảo là để đi mua thuốc nam và L đồng ý. Việc bị cáo dùng chiếc xe này đi tìm mua ma túy anh L không biết, không liên quan. Nguồn gốc chiếc xe này là do anh L mua vào tháng 9/2023 với số tiền 19.000.000 đồng. Hiện nay chiếc xe vẫn đang bị thu giữ, anh Hà Văn L đề nghị Hội đồng xét xử trả chiếc xe cho mình, ngoài ra không có yêu cầu gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Những chứng cứ xác định có tội: Bị cáo bị bắt, bị lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tại cơ quan điều tra và phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với vật chứng thu được, kết luận giám định cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó đã có đủ căn cứ để kết luận: Hà Văn Q là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 23/9/2024, tại xóm Pheo, xã Cun Pheo, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình, Tổ công tác Công an xã Sơn Thủy, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình phối hợp với Công an xã Cun Pheo, Công an xã Bao La, Công an xã Xăm Khòe, Công an xã Thành Sơn và Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự, kinh tế, ma tuý Công an huyện Mai Châu bắt quả tang Hà Văn Q đang tàng trữ 0,19 gam ma túy loại Methamphetamine và 0,14 gam ma túy loại Heroine, khi đang để trong lòng bàn tay trái, tổng cộng hai chất là 0,33 gam. Kết quả điều tra xác định số ma túy trên là của Q mua về để sử dụng cho bản thân, ngoài ra không còn mục đích gì khác. Do đó tổng khối lượng hai chất ma túy mà Hà Văn Q phải chịu trách nhiệm hình sự là 0,33 gam.

Như vậy có đủ căn cứ xác định bị cáo Hà Văn Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Chứng cứ xác định không có tội: Không có.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, biết rõ tác hại của ma tuý đối với bản thân, gia đình và xã hội, trong khi Nhà nước và toàn thể xã hội đang tìm mọi biện pháp phòng, chống tiến tới loại trừ tệ nạn ma tuý ra khỏi cộng đồng bởi tác hại rất lớn của nó, mặc dù đã từng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc nhưng không có tiến bộ, không lấy đó là bài học bị cáo vẫn cố ý tàng trữ hai chất ma túy tổng khối lượng 0,33 gam ma túy để sử dụng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách quản lý Nhà nước về chất ma túy.

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn cũng là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội, khối lượng tàng trữ là 0,33 gam ma túy, nguyên nhân, hậu quả của hành vi phạm tội, tiền án, tiền sự, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo nêu trên. Xét cần xử phạt tù có thời hạn với mức án nghiêm khắc, nhưng phù hợp đối với bị cáo, nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, tạm giam sau khi tuyên án và về các vấn đề khác mà đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đã có ý kiến đề nghị nêu trên. Xét thấy có căn cứ phù hợp quy định pháp luật cần xử lý, giải quyết theo hướng đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về án phí hình sự: Bị cáo Hà Văn Q đã được Tòa án nêu quy định của pháp luật là người thuộc hộ nghèo, người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thuộc trường hợp miễn án phí, tuy nhiên bị cáo có ý kiến không làm đơn xin miễn án phí, bị cáo sẽ tự nguyện nộp theo quy định. Do đó bị cáo Hà Văn Q phải nộp án phí theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh, hình phạt:

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

- Tuyên bố bị cáo Hà Văn Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

- Xử phạt bị cáo Hà Văn Q 16 tháng tù. Thời hạn tính từ ngày tạm giữ 23/9/2024.

2. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên:

- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số Methamphetamine và Heroine sau khi giám định số còn lại đã hoàn trả, được niêm phong trong 01 phong bì.

- Trả lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 28M1-110.xx màu xanh, nhãn hiệu HONDA BLADE (xe không có chìa khóa) cho anh Hà Văn L, sinh năm 2000, nơi cư trú: Xóm P, xã C, huyện M, tỉnh Hòa Bình.

(Các Vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mai Châu, tình trạng, đặc điểm cụ thể của các vật chứng được ghi trong Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số: 12/THA ngày 31/12/2024 giữa bên giao Công an huyện Mai Châu, bên nhận Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mai Châu).

3. Về án phí:

Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Bị cáo Hà Văn Q phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Áp dụng Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình để xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ