- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Anh Nguyễn Đăng K được ly hôn chị Đỗ Thị L.
- Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2025/HNGĐ-ST Ngày: 15/01/2025 V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tính.
Hội Thẩm nhân dân: Ông Trần Minh Phương.
Ông Nguyễn Văn Kỹ.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thanh Huyền - Thư ký TAND tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân nhân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Quang - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 37/2024/TLST-HNGĐ ngày 22/11/2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13/12/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Đăng K, sinh năm 1991. Hiện đang sinh sống và lao động tại Nhật Bản; vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của anh K: Bà Phạm Thị MK, sinh năm 1972; có đơn xin vắng mặt.
- Bị đơn: Chị Đỗ Thị L, sinh năm 1991. Hiện đang sinh sống và lao động tại Nhật Bản; vắng mặt.
Cùng HKTT: Khu phố VX, phường CB, thị xã QV, Bắc Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn là anh Nguyễn Đăng K trình bày: Anh K và chị Đỗ Thị L kết hôn với nhau từ ngày 04/11/2013. Có đăng ký kết hôn tại UBND xã CB (nay là phường CB). Sau khi kết hôn, vợ chồng anh K, chị L về chung sống tại khu phố Vân Xá. Đến năm 2019, vợ chồng anh K, chị L bắt đầu nảy sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Hiện nay, anh K, chị L đều đang lao động tại Nhật Bản nhưng mỗi người một nơi, mỗi người có một cuộc sống riêng. Anh K, chị L đã ly thân nhiều năm. Nay anh đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết cho anh được ly hôn chị Đỗ Thị L.
Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng anh K, chị L có 01 con chung là cháu Nguyễn Đăng KĐ, sinh ngày 27/6/2014. Từ năm 2016 (khi anh K đi Nhật Bản) đến nay, cháu Khánh Đan sinh sống với bà nội là Phạm Thị MK tại khu phố Vân Xá, phường Cách Bi. Trường hợp Tòa án giải quyết cho vợ chồng anh chị ly hôn, anh đề nghị giao cháu Khánh Đan cho anh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Về cấp dưỡng, anh và chị L tự thỏa thuận với nhau, không đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung: Không có, không đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết.
Về công nợ: Không có, không đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết
Về án phí: Anh K tự nguyện chịu toàn bộ án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Bị đơn hiện đang sinh sống và lao động tại Nhật Bản nên Hội đồng xét xử không tiến hành hòa giải được.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án là đảm bảo đúng theo trình tự thủ tục tố tụng. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 28, 35, 37, 38, 146, 147, 227, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH, xử cho anh Nguyễn Đăng K được ly hôn chị Đỗ Thị L. Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Đăng KĐ, sinh ngày 27/6/2014 cho anh K trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con không đặt ra giải quyết. Tài sản và công nợ: Không có, không đặt ra giải quyết. Về án phí: Anh K phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện lời trình bày của các đương sự, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:
. Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp: Theo đơn xin ly hôn đề ngày 12/11/2023, anh Nguyễn Đăng K đề nghị Tòa án xem xét cho anh được ly hôn với chị Đỗ Thị L. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thì quan hệ tranh chấp trong vụ án được xác định là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.
Về thẩm quyền giải quyết: Theo đơn xin ly hôn của anh Nguyễn Đăng K, chị Đỗ Thị L có hộ khẩu thường trú tại khu phố Vân Xá, phường Cách Bi, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh; tại thời điểm thụ lý vụ án cả anh K và chị L đều đang sinh sống và làm việc tại Nhật Bản. Tòa án đã tiến hành xác minh thông tin về thời gian xuất nhập cảnh của chị L tại Phòng quản lý xuất nhập cảnh - Công an tỉnh Bắc Ninh được biết, chị Đỗ Thị L đã xuất cảnh lần gần nhất là ngày 22/8/2023 qua Cửa khẩu sân bay quốc tế Nội Bài, hiện chưa có thông tin nhập cảnh trở lại Việt Nam. Căn cứ khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 38 Bộ luật Tố tụng dân sự thì tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
Về việc tham gia tố tụng của các đương sự: Do chị Đỗ Thị L đang sinh sống và làm việc tại Nhật Bản nên Tòa án đã tiến hành làm việc với bà Nguyễn Thị Nạp và ông Đỗ Xuân Hường là bố mẹ đẻ của chị L về việc cung cấp địa chỉ cụ thể của chị L tại Nhật Bản nhưng bà Nạp, ông Hường không cung cấp được cho Tòa án. Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị L thông qua bà Nạp và bà Nạp cam kết thông báo lại cho anh Lý nội dung các văn bản tố tụng. Anh Lý biết việc chị Dung khởi kiện xin ly hôn tại Tòa án nhưng không có ý kiến gì. Do vậy, cần xác định bị đơn cố tình giấu địa chỉ. Tòa án cũng đã tiến hành tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập cho bà Phạm Thị Minh Khương là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là anh K nhưng bà Khương có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
. Về nội dung vụ án:
. Về quan hệ hôn nhân: anh Nguyễn Đăng K và chị Đỗ Thị L kết hôn ngày 04/11/2013, tại thời điểm kết hôn anh K và chị L đều đủ tuổi, đủ năng lực, đủ điều kiện kết hôn theo luật định và được UBND xã Cách Bi, huyện Quế Võ (nay là phường Cách Bi, huyện Quế Võ) cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Do đó, mối quan hệ hôn nhân giữa anh K và chị L là hợp pháp.
Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị chung sống hạnh phúc và có 01 con chung là cháu Nguyễn Đăng Khánh Đan. Đến năm 2019, vợ chồng anh K, chị L bắt đầu nảy sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Hiện nay, anh K, chị L đều đang lao động tại Nhật Bản nhưng mỗi người một nơi, mỗi người có một cuộc sống riêng. Anh K, chị L đã ly thân nhiều năm, không có tiếng nói chung, không liên lạc gì với nhau, không quan tâm đến cuộc sống của nhau.
Do không lấy được lời khai của chị L, nhưng căn cứ vào lời trình bày của bà Nguyễn Thị Nạp và ông Đỗ Xuân H là bố mẹ đẻ của chị L thì ông bà cũng trình bày về việc anh K, chị L có mâu thuẫn, có thời gian ly thân đúng như anh K trình bày.
Hội đồng xét xử nhận thấy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng anh K, chị L đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Yêu cầu xin ly hôn của anh K là có căn cứ, đủ điều kiện ly hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh K, xử cho anh Nguyễn Đăng K được ly hôn chị Đỗ Thị L.
. Về con chung: Vợ chồng anh K, chị L có một con chung là cháu Nguyễn Đăng Khánh Đan, sinh ngày 27/6/2014. Từ khi anh K, chị L đi lao động tại Nhật Bản đến nay, cháu KĐ sinh sống với bà nội tại khu phố Vân Xá, pH Cách Bi, cháu có nguyện vọng được tiếp tục ở cùng bố nên cần giao cháu Khánh Đan cho anh K tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng, anh K không đề nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về tài sản chung, công nợ chung: Vợ chồng anh K, chị L không có tài sản chung, không có công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
. Về án phí: Anh Nguyễn Đăng K phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 37, 38, 146, 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban TH vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Đăng K.
1. Anh Nguyễn Đăng K được ly hôn chị Đỗ Thị L.
2. Giao cháu Nguyễn Đăng KĐ sinh ngày 27/6/2014 cho anh Nguyễn Đăng K chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Đỗ Thị L được quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng: Không xem xét, giải quyết.
3. Về án phí: Anh Nguyễn Đăng K phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận anh K đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng số 0000292 ngày 22/12/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bắc Ninh; - Cục THADS tỉnh Bắc Ninh; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Tính |