- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án hôn nhân gia đình"
- Tòa quyết gì? Áp dụng vào khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 TỈNH AN GIANG Bản án số: 11/2025/HNGĐ-ST Ngày 22-7-2025 “V/v Ly hôn giữa chị T và anh N” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Thơm
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thanh Nguyên và bà Nguyễn Ngọc Duyên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Tăng Thị Điền - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 7, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Huỳnh Liên - Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 7, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 121/2025/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 06 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 88/2025/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2025 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên toà số 09/2025/TB-TA ngày 25 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Cẩm T, sinh năm 2000
Địa chỉ: Ấp M, xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.
Địa chỉ hiện nay: Ấp M, xã N, thành phố Cần Thơ. (Có mặt).
2. Bị đơn: Anh Ngô Hửu N, sinh năm 1999
Địa chỉ: Ấp H, xã N, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
Địa chỉ hiện nay: Ấp H, xã T, tỉnh An Giang. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và những ý kiến tại Tòa án chị Lê Thị Cẩm T (gọi tắt là chị T) trình bày như sau:
Chị T và anh Ngô Hửu N (gọi tắt là anh N) chung sống với nhau vào năm 2019, hôn nhân tự nguyện được gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán của địa phương và thực hiện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng vào ngày 31/01/2020. Vợ chồng chỉ chung sống được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hoà hợp, không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng thường xuyên xảy ra cự cãi bất đồng. Sau khi sinh con được vài tháng anh N muốn vợ chồng đi Thành phố Hồ Chí Minh kiếm việc làm còn chị N lại muốn ở lại quê tìm việc, vợ chồng đã không tìm được sự thống nhất nên anh N đã bỏ về quê nhà sống và vợ chồng đã ly thân từ tháng 9 năm 2020 cho đến nay anh N cắt mọi nguồn liên lạc không còn tới lui quan tâm tới vợ con. Đến nay chị T xác định không còn tình cảm với chồng, hôn nhân không có hạnh phúc nên yêu cầu được ly hôn với anh N.
Về con chung: Chị T xác định vợ chồng có một người con chung tên Ngô Mỹ N1, sinh ngày 09/7/2020. Từ khi vợ chồng ly thân đến nay con chung sống với chị T, khi ly hôn chị T có nguyện vọng được tiếp tục nuôi con chung và không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung của vợ chồng và nợ chung của vợ chồng: Chị T xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình làm việc tại Tòa án và tại phiên tòa - bị đơn anh Ngô Hửu N vắng mặt và không gửi văn bản trình bày ý kiến trước yêu cầu xin ly hôn của của chị Lê Thị Cẩm T.
Thu thập chứng cứ: Nguyên đơn cung cấp Giấy chứng nhận kết hôn (bản sao); xác nhận thông tin về cư trú của anh Ngô Hửu N, giấy căn cước công dân (Bản sao); giấy khai sinh của cháu Ngô Mỹ N1. Bị đơn không cung cấp chứng cứ.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đảm bảo đúng theo quy định, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý đo đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, xử cho chị T ly hôn với anh N; về con chung giao cháu Ngô Mỹ N1 cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng, ghi nhận ý kiến của chị T không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung và nợ chung vợ chồng không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang (Nay là là T, tỉnh An Giang). Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 7, tỉnh An Giang.
Quan hệ pháp luật: Chị T yêu cầu ly hôn với anh N và yêu cầu giải quyết về con chung khi ly hôn nên quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”.
Sự vắng mặt của đương sự tại phiên toà: Anh N đã được triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử thống nhất xét xử vắng mặt anh N.
Về nội dung vụ án:
Xét yêu cầu khởi kiện của chị T, Hội đồng xét xử nhận thấy:
2.1 Về hôn nhân: Chị T và anh N chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng theo quy định của pháp luật, do đó hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Qua lời trình bày của đương sự và kết quả xác minh từ chính quyền địa phương có cơ sở xác định đời sống hôn nhân của chị T và anh N đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân trong thời gian chung sống vợ chồng không hoà hợp, không tìm được tiếng nói chung vợ chồng thường xảy ra cự cãi bất hoà, đời sống hôn nhân không hạnh phúc. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay mỗi người đều tạo dựng cuộc sống riêng, không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau và đều không có thiện chí hàn gắn hôn nhân. Từ đó có cơ sở để nhận định mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu của chị T, giải quyết cho chị T ly hôn với anh N.
2.2 Về con chung: Chị T và anh N có một người con chung tên Ngô Mỹ N1, sinh ngày 09/7/2020. Từ khi vợ chồng ly thân con chung sống với chị T có cuộc sống ổn định, hiện tại chị T có thu nhập đảm bảo việc nuôi dưỡng con chung và do đó Hội đồng xét xử thống nhất giao cháu Ngô Mỹ N1 cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng sau khi chị T và anh N ly hôn.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận ý kiến của chị T không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.
Chị T và anh N có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
2.3 Về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng: Chị T xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung, các đương sự không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Căn cứ Điều 144 và Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc chị T là nguyên đơn chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng.
Về ý kiến phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng và đề nghị hướng giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 tại phiên tòa là có cơ sở và căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử đã xem xét và ghi nhận trong quá trình giải quyết vụ án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Áp dụng vào khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Cẩm T.
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lê Thị Cẩm T và anh Ngô Hửu N.
2. Về con chung: Giao cháu Ngô Mỹ N1, sinh ngày 09/7/2020 cho chị Lê Thị Cẩm T tiếp tục nuôi dưỡng sau khi chị Lê Thị Cẩm T và anh Ngô Hửu N ly hôn.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận ý kiến của chị Lê Thị Cẩm T không yêu cầu anh Ngô Hửu N cấp dưỡng nuôi con chung.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền đến thăm nom và chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Khi cần thiết anh, chị có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng: Các đương sự không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Chị Lê Thị Cẩm T có nghĩa vụ nộp tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 13 ngày 03/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Chị Lê Thị Cẩm T đã nộp đủ án phí.
5. Báo quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 22/7/2025, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND KV7; - THADS KV7; - Các đương sự; - UBND xã Nhơn Mỹ; - Lưu, HS, VP. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Đinh Thị Thơm |