vanban.org

Bản án 11/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H Tr Byă về việc xin ly hôn với anh Y D Niê .

Quan hệ hôn nhân giữa chị H Tr Byă và anh Y D Niê chấm dứt kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật. [2] Về con chung: Giao cả 02 người con chung, tên là YTr Byă, sinh ngày 01/12/2012 và HTh Byă, sinh ngày 15/10/2015 cho chị HTr Byă trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến lúc trưởng thàn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án HNGĐ ( H Tru - Y Din)"
  • Tòa quyết gì? [1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H Tr Byă về việc xin ly hôn với anh Y D Niê .
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 - ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2025/HNGĐ-ST
Ngày : 21/8/2025
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm, gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Huế

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Minh và ông R Mah In ( Ama Ka)

Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Mạnh – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 6- Đắk Lắk

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Đắk Lắk: Ông Nguyễn Anh Tuấn – Kiểm sát viên

Ngày 21 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dânKhu vực 6 – Đắk Lắk, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 78/2025/TLST-HNGĐ, ngày 25/4/2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con ”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17/7/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 08/2025/QĐST – HNGĐ ngày 04/08/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: HTr Byă , sinh năm: 1996

Trú tại: Buôn CDr, xã CDr, huyện KB, tỉnh Đắk Lắk nay là Buôn CDr, xã YM , Đắk Lắk

- Bị đơn: Y D Niê , sinh năm: 1990

Trú tại: Buôn K, xã CP, huyện KB, tỉnh Đắk Lắk nay là Buôn K, xã CP, Đắk Lắk

NHẬN THẤY

Theo đơn khởi kiện, tại bản tự khai và các biên bản làm việc, chị H Tr Byă trình bày:

Về hôn nhân : Tôi và anh Y D Niê tự nguyện kết hôn với nhau, chúng tôi đã đăng ký kết hôn tại UBND xã CDr, KB, Đắk Lắk nay là UBND xã YM , Đắk Lắk vào năm 2016.

Trong cuộc sống vợ chồng, chúng tôi xảy ra nhiều mâu thuẫn do thiếu sự tôn trọng và quan tâm đến nhau. Mặc dù, chúng tôi cũng đã cố gắng nói chuyện để tìm tiếng nói chung nhưng không thành. Từ tháng 12/2024 đến nay, chúng tôi không còn chung sống cùng nhau, không có sự quan tâm, chăm sóc nhau. Mục đích hôn nhân không đạt. Vì vậy, tôi đề nghị Toà án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh YD Niê .

Về con chung : Tôi và anh YD Niê có 02 người con chung, tên là YTr Byă, sinh ngày 01/12/2012 và HTh Byă, sinh ngày 15/10/2015. Từ khi tôi và anh YD Niê không chung sống cùng nhau thì tôi một mình nuôi dưỡng các con , anh YD Niê không qua lại cũng không hề có sự quan tâm, chăm sóc các con. Vì vậy, khi ly hôn , nguyện vọng của tôi là được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả 02 người con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Tôi không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về án phí: Hiện nay, hoàn cảnh kinh tế của tôi rất khó khăn, tôi một mình nuôi 03 đứa con, không công ăn việc làm ổn định . Vì vậy, đề nghị Toà án xem xét cho tôi được miễn, giảm tiền án phí

Quá trình giải quyết vụ án, anh YD Niê không đến Toà án để làm việc

Tại bản tự khai ngày 04/8/2025, con chung là YTr Byă trình bày: Khi cha mẹ cháu ly hôn thì cháu có nguyện vọng được ở với mẹ

Tại bản tự khai ngày 04/8/2025, con chung là HTh B yă trình bày: Khi cha mẹ cháu ly hôn thì cháu có nguyện vọng được ở với mẹ

Tại công văn số 159 ngày 12/5/2025, Công an xã CP, KB ,tỉnh Đắk Lắk nay là công an xã CP, Đắk Lắk cho biết: Anh YD Niê, sinh năm 1990 có đăng ký thường trú tại Buôn K, CP, KB ,tỉnh Đắk Lắk đến khi cưới vợ là HTr B yă, sinh năm 1996, trú tại buôn CDr, KB, tỉnh Đắk Lắk thì chuyển khẩu đến sinh sống cùng vợ tại buôn CDr, KB, Đắk Lắk

Đến nay, ông Y D Niê quay về sống tại buôn K, CP, KB,tỉnh Đắk Lắk ( ở nhà dì ruột là bà H H Niê, sinh năm: 1986)

Tại biên bản xác minh ngày 11/6/2025, bí thư chi bộ buôn CDr , xã CDr, KB, tỉnh Đắk Lắk nay là xã YM, Đắk Lắk cho biết: Anh YD Niê không đăng ký hộ khẩu thường trú tại buôn CDr, xã CDr, KB, tỉnh Đắk Lắk mà chỉ ở nhờ nhà vợ. Trước kia thì vợ chồng sinh sống ở đây hạnh phúc nhưng có khoảng thời gian anh YD Niê và chị HTr Byă lục đục, cãi vã. Hiện nay, chị HTr và anh YD không sinh sống cùng nhau. Hiện tại thì anh YD Niê không sinh sống ở buôn CDr, xã CDr và đã về xã CP sinh sống. Hiện nay, chị HTr làm đơn xin ly hôn với anh YD thì chúng tôi không có ý kiến gì chỉ yêu cầu Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại biên bản xác minh ngày 11/6/2025, buôn trưởng buôn K, xã CDr, KB, tỉnh Đắk Lắk nay là xã YM, Đắk Lắk cho biết: Hiện nay, anh YD Niê đăng ký hộ khẩu thường trú tại buôn K, CP, KB, tỉnh Đắk Lắk. Khi cưới chị HTr Byă thì anh Y D về nhà vợ ở buôn CDr, xã CDr, KB , Đắk Lắk sinh sống. Đến nay, anh Y D Niê về lại CP để ở và sinh sống tại nhà dì ruột là nhà bà H H Niê. Về mâu thuẫn gia đình thì tôi không nắm rõ vì khi anh Y D cưới vợ xong thì về bên nhà vợ ở buôn CDr, xã CDr nên chúng tôi không biết. Hiện nay, anh Y D Niê vẫn sinh sống tại địa phương.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Bông tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán từ khi thụ lý vụ án theo đúng thẩm quyền, xác định mối quan hệ tranh chấp, những người tham gia tố tụng đúng, đủ; tiến hành thu thập chứng cứ, hoà giải, tống đạt các văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng, chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nghiên cứu Thẩm phán đã chấp hành đúng với quy định tại Điều 48 BLTTDS và tiến hành các hoạt động tố tụng khác khi giải quyết vụ án theo đúng quy định của BLTTDS; Đối với thành phần Hội đồng xét xử không có thành viên nào thuộc trường hợp phải thay đổi, việc hỏi tại phiên tòa, thời hạn xét xử cũng như thủ tục tống đạt được đảm bảo đúng các quy định của BLTTDS về phiên toà sơ thẩm.

Về nội dung: Áp dụng khoản 4 Điều 147; Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Áp dụng các Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Áp dụng điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Qua lời trình bày của các đương sự và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thấy rằng: Chị HTr Byă và anh YD Niê tự nguyện kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn tại UBND xã CDr, KB, Đắk Lắk nay là UBND xã YM, Đắk Lắk vào năm 2016. Do vậy, hôn nhân giữa chị HTr Byă và anh YD Niê là hôn nhân hợp pháp.

Tuy nhiên, vợ chồng mâu thuẫn với nhau, không có sự tin tưởng, tôn trọng nhau và đã không còn chung sống cùng nhau từ tháng 12/2024 đến nay, không có sự quan tâm, chăm sóc nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn xin ly hôn của chị HTr Byă đối vơi anh YD Niê .

Về con chung : Chị HTr Byă và anh YD Niê có 02 người con chung, tên là YTr Byă, sinh ngày 01/12/2012 và HTh Byă, sinh ngày 15/10/2015. Khi ly hôn , nguyện vọng của chị HTr Byă là được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả 02 người con chung là tự nguyện và phù hợp với nguyện vọng của các con . Do vậy đề nghị Hội dồng xét xử chấp nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết. Vì vậy , không đặt ra để giải quyết.

Về án phí: Đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày và xác nhận của đương sự trước phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền: Chị HTr Byă yêu cầu Tòa án giải quyết “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” với anh YD Niê. Các đương sự đều có hộ khẩu thường trú tại huyện KB, Đăk Lăk nay là xã CP và xã YM, Đắk Lắk. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông Bông nay là Toà án nhân dân khu vực 6 – Đắk Lắk theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

* Về tố tụng: Tại phiên tòa ngày hôm nay, anh YD Niê và chị YTr Byă không đến tham dự phiên tòa nhưng đây là lần thứ hai phiên toà được mở. Do vậy, căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân huyện Krông Bông, Đăk Lăk nay là Toà án nhân dân khu vực 6 – Đắk Lắk vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Qua lời trình bày của các đương sự và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thấy rằng: Chị HTr Byă và anh YD Niê tự nguyện kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn tại UBND xã CDr, KB, Đắk Lắk nay là xã YM, Đắk Lắk vào năm 2016. Do vậy, hôn nhân giữa chị HTr Byă và anh YD Niê là hôn nhân hợp pháp.

Tuy nhiên, vợ chồng mâu thuẫn với nhau, không có sự tin tưởng, tôn trọng nhau và đã không còn chung sống cùng nhau từ tháng 12/2024 đến nay, không có sự quan tâm, chăm sóc nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần chấp nhận đơn xin ly hôn của chị HTr Byă đối với anh YD Niê .

Về con chung : Chị HTr Byă và anh YD Niê có 02 người con chung, tên là YTr Byă, sinh ngày 01/12/2012 và HTh Byă, sinh ngày 15/10/2015. Khi ly hôn , nguyện vọng của chị HTr Byă là được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả 02 người con chung là tự nguyện và phù hợp với nguyện vọng của các con. Do vậy, cần giao cả 02 người con chung chưa thành niên cho chị H Tr Byă trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến lúc trưởng thành hoặc có sự thay đổi khác.

Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết. Vì vậy , không đặt ra để giải quyết.

Về án phí: Chị HTr Byă tự nguyện nộp toàn bộ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng chị HTr Byă có đơn xin miễn, giảm tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, bản thân không có công ăn việc làm ổn định, một mình lại nuôi 02 con còn nhỏ. Nhận thấy, chị HTr Byă là người dân tộc thiểu số, thường xuyên sinh sống ở vùng kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Vì vậy, áp dụng điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Cần miễn nộp tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm cho chị HTr Byă .

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 48; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273; Điều 278 và khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Áp dụng các Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H Tr Byă về việc xin ly hôn với anh Y D Niê .

Quan hệ hôn nhân giữa chị H Tr Byă và anh Y D Niê chấm dứt kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.

[2] Về con chung: Giao cả 02 người con chung, tên là YTr Byă, sinh ngày 01/12/2012 và HTh Byă, sinh ngày 15/10/2015 cho chị HTr Byă trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến lúc trưởng thành hoặc có sự thay đổi khác.

Về án phí: Miễn nộp tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm cho chị HTr Byă .

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ