- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trương Thị D - Ngô Văn V"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị D được ly hôn với anh Ngô Văn V.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2025/HNGĐ-ST Ngày 04-08-2025 “Về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phan Thị Dương Thanh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Mai Phương, nghề nghiệp: Giáo viên
2. Bà Lê Thị Việt, nghề nghiệp: Giáo viên
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhị - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Nguyên - chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 08 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 236/2025/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 07 năm 2025, giữa:
- Nguyên đơn: Chị Trương Thị D, sinh năm 1989. Nơi ĐKNKTT: Thôn 2, xã E, tỉnh Đắk Lắk (trước đây là xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk); Hiện ở tại: Thôn T, xã E, tỉnh Đắk Lắk (trước đây là xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk). (Có mặt)
- Bị đơn: Anh Ngô Văn V, sinh năm 1986. Nơi ĐKNKTT: Thôn 2, xã E, tỉnh Đắk Lắk (trước đây là xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk); Hiện ở tại: Thôn T, xã E, tỉnh Đắk Lắk (trước đây là xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk). (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trương Thị D trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Tôi với anh Ngô Văn V kết hôn trên cơ sở tình yêu tự nguyện, tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán tại địa phương và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Khuê Ngọc Đ, huyện Krông B, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã Krông B, tỉnh Đắk Lắk) vào ngày 07/03/2011, theo giấy chứng nhận kết hôn số 10/2011, quyển số 01/2008.
Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên sau đó thì vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp. Gia đình hai bên đã hòa giải cho chúng tôi nhiều lần nhưng không thành. Sau khi đến Tòa án làm việc vào các ngày 18/6/2025 và 25/6/2025 thì anh V về nhà xúc phạm chửi bới tôi, làm cho mẹ con tôi phải về nhà mẹ đẻ ở tại thôn 2, xã E để ở.
Xét mục đích hôn nhân của chúng tôi không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn. Nên tôi đã làm đơn khởi kiện xin được ly hôn với anh Ngô Văn V. Nguyện vọng của tôi đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết cho tôi với anh Ngô Văn V được ly hôn.
- Về con chung: Giữa chúng tôi có 02 con chung là cháu Ngô Trương N, sinh ngày 04-9-2011 và cháu Ngô Trương Đăng Kh, sinh ngày 13-11-2018. Hiện các cháu còn nhỏ. Nay vợ chồng ly hôn thì tôi có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Ngô Trương N và cháu Ngô Trương Đăng Kh cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
- Về cấp dưỡng: Theo đơn khởi kiện, tôi yêu cầu anh Ngô Văn V hàng tháng phải cấp dưỡng tiền nuôi con với mức cấp dưỡng là 5.000.000 đồng/tháng/02 cháu cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Tuy nhiên, nay tôi và anh V tự thỏa thuận việc cấp dưỡng nuôi con với nhau, tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết nữa.
- Về tài sản chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra tôi không có yêu cầu gì thêm.
* Quá trình làm việc tại Tòa án và tại phiên tòa, bị đơn anh Ngô Văn V trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Tôi với chị Trương Thi D kết hôn trên cơ sở tình yêu tự nguyện, tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán tại địa phương và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Khuê Ngọc Đ, huyện Krông B, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã Krông B, tỉnh Đắk Lắk) vào ngày 07/03/2011, theo giấy chứng nhận kết hôn số 10/2011, quyển số 01/2008.
Quá trình vợ chồng chung sống với nhau thì thi thoảng có xảy ra mâu thuẫn nhưng những mâu thuẫn này không đáng kể. Nay chị Trương Thi D làm đơn khởi kiện xin được ly hôn với tôi Ngô Văn V thì tôi không đồng ý. Đề nghị Tòa án hòa giải cho vợ chồng tôi quay về đoàn tụ, bản thân tôi còn rất yêu thương vợ. Trong trường hợp chị D vẫn cương quyết ly hôn, không muốn quay về đoàn tụ thì đề nghị giải quyết theo quy định.
- Về con chung: Giữa chúng tôi có 02 con chung là cháu Ngô Trương N, sinh ngày 04-9-2011 và cháu Ngô Trương Đăng Kh, sinh ngày 13-11-2018. Hiện các cháu còn nhỏ. Do không đồng ý ly hôn nên không yêu cầu giải quyết về con chung.
Trong trường hợp chị D vẫn cương quyết ly hôn thì tôi có nguyện vọng được giao cháu Ngô Trương N, sinh ngày 04-9-2011 và cháu Ngô Trương Đăng Kh, sinh ngày 13-11-2018 cho chị Trương Thị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
- Về cấp dưỡng: Chúng tôi tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, về nợ chung: Do không đồng ý ly hôn nên tôi không yêu cầu giải quyết về tài sản chung, về nợ chung. Trong trường hợp chị D vẫn cương quyết ly hôn thì chúng tôi tự thỏa thuận về tài sản chung và nợ chung. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra tôi không có ý kiến gì thêm.
Quá trình làm việc, Tòa án đã tiến hành mở phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải giữa các đương sự với nhau nhưng anh Ngô Văn V không đồng ý ly hôn trong khi đó chị Trương Thị D vẫn giữ nguyên quan điểm xin được ly hôn với anh Ngô Văn V. Do đó, căn cứ Điều 203 và Điều 220 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk tại phiên tòa:
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự là nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 5, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
+ Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trương Thị D được ly hôn với anh Ngô Văn V.
+ Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Ngô Trương N, sinh ngày 04-9-2011 và cháu Ngô Trương Đăng Kh, sinh ngày 13-11-2018 cho chị Trương Thị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
+ Về cấp dưỡng: Chị Trương Thị D với anh Ngô Văn V tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy không đề cập để xem xét.
+ Về tài sản chung, nợ chung: Chị Trương Thị D xác định chị và anh Ngô Văn V tự thỏa thuận tài sản chung, tự thỏa thuận nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy không đề cập để xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định về nội dung vụ án như sau:
Về thủ tục tố tụng:
- Về thẩm quyền: Căn cứ vào đơn khởi kiện thì bị đơn anh Ngô Văn V có nơi cư trú tại xã E, tỉnh Đắk Lắk nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về quan hệ tranh chấp: Căn cứ vào đơn khởi kiện của chị Trương Thị D thì xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung khởi kiện: Chị Trương Thị D làm đơn xin được ly hôn với anh Ngô Văn V. Hội đồng xét xử thấy:
- Về quan hệ hôn nhân: Qua các tài liệu chứng cứ do đương sự cung cấp kèm theo đơn khởi kiện và việc thu thập chứng cứ của Tòa án có trong hồ sơ thể hiện: Chị Trương Thị D với anh Ngô Văn V kết hôn trên cơ sở tình yêu tự nguyện, tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán tại địa phương và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Khuê Ngọc Đ, huyện Krông B, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã Krông B, tỉnh Đắk Lắk) vào ngày 07/03/2011, theo giấy chứng nhận kết hôn số 10/2011, quyển số 01/2008. Vì vậy, xác định hôn nhân giữa chị D và anh V là hôn nhân hợp pháp.
Về mâu thuẫn: Quá trình làm việc và tại phiên tòa, anh V thừa nhận “trong quá trình chung sống, thì vợ chồng anh chị có xảy ra mâu thuẫn nhưng không đáng kể. Khi xảy ra mâu thuẫn thì gia đình hai bên đều có khuyên can chúng tôi”. Theo biên bản xác minh của Tòa án tại địa phương (BL 23) thể hiện “...chị Trương Thị D và anh Ngô Văn V tạm trú tại thôn T, xã E (nay là xã E). Trong quá trình sống tại địa phương thì vợ chồng có mâu thuẫn và nhờ ban tự quản thôn can thiệp hòa giải. Tuy nhiên hai vợ chồng chỉ tạm trú tại địa phương nên chúng tôi không can thiệp quá sâu...”. Tòa án đã hòa giải cho chị D và anh V tuy nhiên chị D vẫn cương quyết ly hôn, còn anh V không đồng ý ly hôn.
Theo quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau, có nghĩa vụ chung sống với nhau.
Như vậy, căn cứ vào tình trạng hôn nhân thực tế giữa chị D với anh V, xét mâu thuẫn giữa anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị D yêu cầu xin được ly hôn đối với anh V là có căn cứ. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Trương Thị D, cho chị Trương Thị D được ly hôn với anh Ngô Văn V.
- Về con chung: Quá trình chung sống, giữa anh chị có với nhau 02 con chung là cháu Ngô Trương N, sinh ngày 04-9-2011 và cháu Ngô Trương Đăng Kh, sinh ngày 13-11-2018. Hiện các cháu còn nhỏ.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: “2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.
Qua lời khai của cháu Ngô Trương N cung cấp cho Tòa án thì thấy cháu có nguyện vọng được ở với mẹ là chị Trương Thị D. Tại phiên tòa anh V đồng ý giao 02 con chung là cháu Ngô Trương N và cháu Ngô Trương Đăng Kh cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng và bản thân chị D cũng có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là cháu N và cháu Kh cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi của con chung chưa thành niên. Căn cứ vào Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình thì Hội đồng xét xử thấy: giao con chung là cháu Ngô Trương N, sinh ngày 04-9-2011 và cháu Ngô Trương Đăng Kh, sinh ngày 13-11-2018 cho chị Trương Thị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng khi ly hôn là phù hợp.
Anh Ngô Văn V được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Tuy nhiên, anh V không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung.
Vì quyền lợi của con chung các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Theo đơn khởi kiện, chị Trương Thị D yêu cầu anh Ngô Văn V hàng tháng cấp dưỡng tiền nuôi con là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng/tháng) cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Tuy nhiên, tại phiên tòa thì chị D và anh V xác định anh chị tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đề cập để xem xét.
- Về tài sản, về nợ chung: Chị Trương Thị D và anh Ngô Văn V cùng xác định anh chị tự thỏa thuận tài sản chung, tự thỏa thuận nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đề cập để xem xét.
Về án phí: Chị Trương Thị D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Xét quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk tại phiên tòa là phù hợp với chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đúng pháp luật nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 5, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 203, Điều 220, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.
Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Áp dụng khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị D được ly hôn với anh Ngô Văn V.
2. Về nuôi con chung: Giao con chung là cháu Ngô Trương N, sinh ngày 04-9-2011 và cháu Ngô Trương Đăng Kh, sinh ngày 13-11-2018 cho chị Trương Thị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu tròn 18 tuổi và có khả năng lao động.
Anh Ngô Văn V được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Tuy nhiên, anh V không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung.
Vì quyền lợi của con chung các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tòa án không xem xét, không giải quyết.
4. Về tài sản chung và về nợ chung: Tòa án không xem xét, không giải quyết.
5. Về án phí: Chị Trương Thị D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà chị Trương Thị D đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện K, tỉnh Đắk Lắk (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk) theo biên lai thu số 0003276 ngày 04 tháng 6 năm 2025.
6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND khu vực 4 - Đắk Lắk; - THADS tỉnh Đắk Lắk; - UBND xã Krông B, tỉnh Đắk Lắk (trước đây là xã Khuê Ngọc Đ, huyện Krông B, tỉnh Đắk Lắk); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, V.P. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM ̉ THÂM PHÁ N - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phan Thị Dƣơng Thanh |