- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Lê Thị Phương T được ly hôn với ông Lê Thanh B."
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Phương T. Bà Lê Thị Phương T được ly hôn với ông Lê Thanh B.
- Căn cứ chính? Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 11/2025/HNGĐ-ST Ngày 20 tháng 03 năm 2025 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU- TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Quyết Tâm.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Văn Nga và ông Nguyễn Ngọc Anh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Ngọc Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu- tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu- tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Tuất - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 600/2024/TLST-HNGĐ ngày 29/11/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2025/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Phương T, sinh năm 1984.
Địa chỉ: Số E, tổ A, ấp B, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Ông Lê Thanh B, sinh năm 1985;
Địa chỉ: Tổ I, ấp B, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
(Bà T có đơn xin vắng mặt; ông B vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện, trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn là bà Lê Thị Phương T trình bày:
Bà T và ông Lê Thanh B tự nguyện yêu thương chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai và được UBND xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số 51/2012 ngày 13/7/2012.
Ông, bà chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi nhau, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, vợ chồng không thể hàn gắn, nói chuyện với nhau được. Từ tháng 08/2024 cho đến nay bà T về nhà mẹ ruột sinh sống tại số E, tổ A, ấp B, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai, vợ chồng bà đã sống ly thân từ đó đến nay và không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà T yêu cầu ly hôn với ông Lê Thanh B.
Về con chung: Bà T yêu cầu nuôi dưỡng con là Lê Thanh Bảo N, sinh ngày 17/3/2015 và tạm thời không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con. Bà trình bày hiện nay đang làm công nhân của Công ty C thu nhập trung bình mỗi tháng là 12.000.000 đồng, bà hiện nay đang sinh sống tại nhà mẹ ruột có nơi ở ổn định nên bà đủ điều kiện nuôi con.
Về tài sản chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà T khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Bà T đồng ý nộp toàn bộ án phí về việc ly hôn.
- Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông Lê Thanh B không gửi văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của bà T, cũng không đến Tòa án làm việc, không đến tham gia phiên tòa nên không có lời trình bày của ông B.
- Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu phát biểu quan điểm:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng là đúng quy định của pháp luật.
Yêu cầu của bà T là có cơ sở chấp nhận nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị Phương T về việc được ly hôn với ông Lê Thanh B; về con chung giao cháu là Lê Thanh Bảo N, sinh ngày 17/3/2015 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng và tạm thời ông B không cấp dưỡng nuôi con. Về nợ chung đương sự khai không có và không yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung của vợ chồng nên không xem xét giải quyết. Bà T phải chịu án phí theo luật định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
1.1. Bà Lê Thị Phương T yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai giải quyết ly hôn với ông Lê Thanh B và yêu cầu nuôi dưỡng con chung vì vậy quan hệ pháp luật trong vụ án này được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.
1.2. Bị đơn là ông Lê Thanh B có nơi cư trú tại Tổ I, ấp B, xã B, huyện V, tỉnh Đồng Nai, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.
1.3. Sau khi thụ lý, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án và đã nhiều lần tống đạt hợp lệ “Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải” và “giấy triệu tập” (thể hiện tại các bút lục số: 28 đến 31) nhưng ông B không đến Tòa án làm việc, không tham gia phiên họp. Do ông B đã được thông báo, triệu tập nhiều lần nhưng vẫn không đến tham gia phiên họp và hòa giải nên Tòa án đã lập biên bản ghi nhận việc không thể tiến hành hòa giải được. Đồng thời, tiếp tục tống đạt cho ông B bằng thủ tục niêm yết các văn bản tố tụng gồm: “Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải”, “Quyết định đưa vụ án ra xét xử”, “Quyết định hoãn phiên tòa” (thể hiện tại các bút lục 54, 55, 56, 57 và các bút lục 60, 61, 62, 63) theo đúng quy định của pháp luật. Như vậy, ông B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Về phía bà T đã có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227; Điều 228; Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.
[2]. Về nội dung tranh chấp:
2.1. Bà T, ông B tự nguyện chung sống với nhau, được cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận kết hôn theo đúng quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên hôn nhân giữa bà T, ông B là hôn nhân hợp pháp.
2.2. Như đã phân tích mục 1.3 nêu trên, ông B không lên Tòa án tham gia giải quyết vụ án, cũng không thực hiện nghĩa vụ chứng minh, cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Căn cứ vào khoản 1, khoản 2 và khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử căn cứ vào chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ để giải quyết vụ án.
2.3. Trên cơ sở lời khai, lời trình bày của bà T và xác minh tại địa phương nơi bà T, ông B sinh sống thì thấy cuộc sống chung của bà T đã không có hạnh phúc. Trên thực tế, bà T, ông B hiện nay đã sống ly thân với nhau từ tháng 08/2024 đến nay, vợ chồng không còn sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã tổ chức phiên họp hòa giải để đoàn tụ nhưng ông B không đến Tòa án tham gia phiên hòa giải với bà T, qua đó thể hiện ông B không có thiện chí hàn gắn đoàn tụ với bà T. Xét thấy bà T, ông B không có sự yêu thương, tôn trọng; không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình, đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của bà T với ông B là có cơ sở chấp nhận.
2.4. Về con chung: Bà T yêu cầu nuôi dưỡng cháu Lê Thanh Bảo N, sinh ngày 17/3/2015. Ông B không có ý kiến phản đối yêu cầu này của bà T. Đồng thời hiện nay cháu B đang sống với bà T. Bà T hiện nay đang làm công nhân của Công ty C thu nhập trung bình mỗi tháng là 12.000.000 đồng, bà hiện nay đang sinh sống tại nhà mẹ ruột có nơi ở ổn định nên bà đủ điều kiện nuôi con, đồng thời cháu N cũng có nguyện vọng sống với mẹ là bà T. Do vậy căn cứ quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân gia đình thì yêu cầu được trực tiếp nuôi con của bà T là có cơ sở chấp nhận. Bà T tạm thời không yêu cầu ông B phải cấp dưỡng nuôi dưỡng con nên Hội đồng xét xử không phải giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con.
2.5. Về nợ chung và tài sản chung: Bà T khai không có nợ chung, bà T không yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng nên Hội đồng xét xử không giải quyết về tài sản chung và nợ chung của bà T, ông B trong vụ án này.
[3]. Về án phí ly hôn: Bà T khởi kiện xin ly hôn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 đồng và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà T đã nộp.
[4]. Quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử, có cơ sở chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 91; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 266; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điều 9, 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000;
Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83, 84, 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Phương T. Bà Lê Thị Phương T được ly hôn với ông Lê Thanh B.
2. Về con chung: Giao cháu Lê Thanh Bảo N, sinh ngày 17/3/2015 cho bà Lê Thị Phương T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng.
Tạm thời ông Lê Thanh B không phải cấp dưỡng nuôi con.
Không ai được cản trở quyền đi lại, thăm nom và chăm sóc con chung của anh Lê Thanh B.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Vì lợi ích của con, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ, hoặc cơ quan, tổ chức được quy định tại Điều 119 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc cấp dưỡng nuôi con.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị Phương T phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà T đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0010311 ngày 29/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu. Như vậy, bà T đã nộp đủ tiền án phí sơ thẩm.
4. Bà T, ông B có quyền kháng cáo trong hạn thời 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án này theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện Vĩnh Cửu; - UBND xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai. - Chi cục T.H.A. dân sự huyện Vĩnh Cửu; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Quyết Tâm |