vanban.org

Bản án 11/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị H Lăng Cil.

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị H L Cil ly hôn anh Y B. Về con chung: Chị H L và anh Y B không có con chung và không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "H L và Y B"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị H Lăng Cil.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẮK
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:11/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 23/5/2025
“V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa
chị H L và anh Y B”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẮK, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Văn Công Cường

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Chiu;

2. Ông Nguyễn Xuân Dũng.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Bách - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Thạnh - Kiểm sát viện.

Ngày 23 tháng 5 năm 2025, tại phòng xử án, trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 32/2025/TLST-HNGĐ ngày 12/3/2025 về “tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24/4/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2025/QĐST-DS ngày 13 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị H L, sinh năm 1995, địa chỉ: Buôn J, xã Đ, huyện L, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.

2. Bị đơn: Anh Y B, sinh năm 1991, địa chỉ: Buôn C, xã Đ, huyện L, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn chị H L trình bày nội dung như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị H L và anh Y B là vợ chồng chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 03/10/2019. Sau khi kết hôn hai người sống chung với nhau tại nhà bố mẹ của chị H L ở buôn J, xã Đ, huyện L, tỉnh Đắk Lắk. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính cách hai người không hợp nhau, anh Y B không quan tâm, chăm sóc đến cuộc sống gia đình mà ham chơi, dẫn đến hai người sống ly thân từ đó cho đến nay. Anh Y B đã chuyển về buôn C, xã Đắk P sinh sống, còn chị H L vẫn cư trú tại buôn J, xã Đ. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn và không muốn tiếp tục sống chung với anh Y B nữa nên chị H L yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn anh Y B.

- Về con chung: Chị H L xác định quá trình chung sống với anh Y B hai người chưa có con chung nên không yêu cầu giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại địa phương chị thuộc trường hợp người đồng bào dân tộc thiểu số cư trú tại xã có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn nhưng hiểu được, nói được và viết được tiếng Việt phổ thông nên không yêu cầu người phiên dịch và trợ giúp pháp lý.

* Đối với bị đơn anh Y Bi Srũk:

Quá trình giải quyết tranh chấp, Tòa án đã tiến hành cấp, tống đạt các văn bản tố tụng, thông báo và triệu tập hợp lệ cho anh Y B tham gia tố tụng để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình nhưng anh Y B đều vắng mặt và cũng không có ý kiến phản hồi gì về việc chị H L khởi kiện yêu cầu ly hôn, phiên tòa lần thứ hai vẫn tiếp tục vắng mặt không có lý do.

* Theo biên bản xác minh ngày 16 tháng 4 năm 2025 tại buôn C, xã Đ, huyện L, tỉnh Đắk Lắk có nội dung như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Chị H L, sinh năm 1995, địa chỉ: Buôn J, xã Đ, huyện L, tỉnh Đắk Lắk và anh Y B, sinh năm 1991, địa chỉ: Buôn C, xã Đắk P, huyện L, tỉnh Đắk Lắk là vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đắk P, huyện L, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 03/10/2019 trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn hai người chuyển đến chung sống với nhau tại buôn J, xã Đắk P, huyện L, tỉnh Đắk Lắk. Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc nhưng đến năm 2020 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, không còn tình cảm nữa. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính cách hai người không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, anh Y B không quan tâm đến gia đình, hiện tại hai người sống ly thân, chị H L vẫn sinh sống và cư trú tại buôn J, xã Đ, còn anh Y B đã chuyển về buôn C, xã Đ để sinh sống và cư trú. Công việc của hai người chủ yếu làm nông, đủ đáp ứng cuộc sống hằng ngày.

Về con chung: Quá trình chung sống cho đến nay chị H L và anh Y B chưa có con chung.

* Theo căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx cấp ngày 08/7/2021 xác định được anh Y B, sinh ngày 01/01/1991, nơi thường trú: Buôn C, xã Đ, huyện L, tỉnh Đắk Lắk.

* Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lắk phát biểu:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử (viết HĐXX), Thẩm phán và Thư ký: Quá trình thu thập tài liệu, chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án, HĐXX, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Về thời hạn xét xử, việc chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát, tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự và gửi cho Viện kiểm sát đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 203; Điều 170 đến 175, Điều 177 và khoản 2 Điều 220 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện đúng các quy định của Điều 70 và 71 Bộ luật tố tụng Dân sự; bị đơn chưa thực hiện đúng theo điều 70 và 72 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn xác định không còn tình cảm với bị đơn và có nguyện vọng ly hôn. Bị đơn đã được Tòa án thông báo và triệu tập hợp lệ nhưng không tham gia tố tụng để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình, không có ý kiến phản hồi gì, phiên tòa lần hai tiếp tục vắng mặt không có lý do, do đó đề nghị HĐXX áp dụng Điều 227 và 228 Bộ luật tố tụng Dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và theo hướng chấp nhận yêu cầu về việc ly hôn của nguyên đơn.

Về con chung: Không có con chung nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Xét đơn khởi kiện của nguyên đơn chị H L yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Y B là quan hệ pháp luật tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng Dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự, do đó Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền.

Về thủ tục tố tụng: Đối với bị đơn anh Y B đã được Tòa án cấp, tống đạt, thông báo các văn bản và triệu tập tham gia tố tụng để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình nhưng đều vắng mặt không có ý kiến phản hồi gì. Tại phiên tòa lần hai tiếp tục vắng mặt không có lý do, vi phạm quyền, nghĩa vụ của đương sự được quy định tại Điều 70 Bộ luật tố tụng Dân sự. Do đó căn cứ Điều 227 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự, HĐXX thực hiện việc xét xử vắng mặt anh Y B.

Về quan hệ hôn nhân: Chị H L và anh Y B là vợ chồng chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 03/10/2019 là đúng thực tế vì quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn xuất trình và cung cấp giấy chứng nhận kết hôn bản chính do Ủy ban nhân dân xã Đắk Phơi cấp, mặt khác chính quyền địa phương cũng xác nhận sự việc này tại biên bản xác minh ngày 16/4/2025. Xét thấy đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ, sau khi kết hôn hai người sống chung với nhau tại buôn J, xã Đ, huyện L, tỉnh Đắk Lắk nhưng đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính cách hai người không hợp nhau, làm cho tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc và đã sống ly thân. Do đó chị H L có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Y B là có căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 56 luật Hôn nhân và Gia đình.

Quá trình giải quyết việc tranh chấp, Tòa án đã phân tích, hòa giải để chị H L về đoàn tụ gia đình nhưng chị vẫn không thay đổi, kiên quyết giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn. Còn đối với anh Y B không tham gia tố tụng nhưng cũng không có ý kiến phản hồi gì về việc chi H L khởi kiện ly hôn và cũng không thể hiện thiện chí của sự níu kéo, động viên, khuyên bảo chị H L thay đổi, không tham gia tố tụng, vắng mặt tại các phiên tòa. HĐXX xét thấy tình cảm vợ chồng không thể cải thiện, mâu thuẫn kéo dài không khắc phục được, chị H L và anh Y B vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị H L và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa, giải quyết cho chị H L ly hôn anh Y B.

Về con chung: Chị H L xác định quá trình chung sống với anh Y B, hai người chưa có con chung là có căn cứ vì chính quyền địa phương cũng đã xác nhận sự việc này tại biên bản xác minh ngày 16/4/2025 và nguyên đơn không yêu cầu giải quyết nên xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về tiền tạm ứng án phí và án phí: Chị H L là người nộp đơn khởi kiện giải quyết việc ly hôn nên phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật, nhưng thuộc trường hợp hộ nghèo năm 2025 và cư trú tại xã có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn toàn bộ tiền tạm ứng án phí trước khi thụ lý vụ án và án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 144; 147; 203; 220; 227; 228; 266; 271 và 273 Bộ luật tố tụng Dân sự;

Căn cứ các Điều 51; 56; 57; 58 luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 và 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án và danh mục án phí, lệ phí của Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị H Lăng Cil.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị H L Cil ly hôn anh Y B.

2. Về con chung: Chị H L và anh Y B không có con chung và không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

4. Về án phí và tạm ứng án phí:

- Về án phí: Miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn cho chị H L. Anh Y B không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.

- Về tiền tạm ứng án phí: Chị H L thuộc trường hợp hộ nghèo năm 2025 và người đồng bào dân tộc thiểu số cư trú và sinh sống tại xã có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn toàn bộ tiền tạm ứng án phí trước khi thụ lý vụ án nên không xem xét.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ