vanban.org

Bản án 11/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (VIB) đối với ông Trần Văn H.

Ông Trần Văn H phải trả Ngân hàng Thương mại cổ phần Q số tiền còn nợ của các hợp đồng tín dụng, tạm tính đến hết ngày 23/4/2025, cụ thể như sau: Hợp đồng tín dụng số 103741595.23 ngày 07/12/2023, gồm: Nợ gốc là 1.389.477.000 đồng, nợ lãi trong hạn 51.004.061 đồng, nợ lãi quá hạn 89.270.884 đồng, tổ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (VIB) yêu cầu ông Trần Văn H trả nợ"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (VIB) đối với ông Trần Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐAN PHƯỢNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2025/DS-ST
Ngày: 24 - 4 - 2025
V/v tranh chấp Hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Doãn Văn Tuyến

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Văn Nhật

Bà Nguyễn Thị Sen.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Toàn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 127/2024/TLST-DS ngày 25 tháng 12 năm 2024 về việc tranh chấp Hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2025/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 3 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2025/QĐST-DS ngày 03 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (VIB);

Địa chỉ: Tầng 1 (tầng trệt) và tầng 2 Tòa nhà Sailing Tower, Số 111A Pasteur, phường Bến Nghé, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Ngọc Vũ, chức vụ: Tổng Giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần Q.

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Đình Thiện, chức vụ: Giám đốc Khối mạng lưới kinh doanh Ngân hàng bán lẻ Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (theo Giấy ủy quyền số 226369.24 ngày 23/10/2024).

Người được ủy quyền lại: Bà Nguyễn Thị Hương, chức vụ: Giám đốc THN trực tiếp và XLN Vùng, Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (theo Giấy ủy quyền số 232679.24 ngày 23/10/2024).

Người được ủy quyền tham gia tố tụng: Bà Vũ Thị Cẩm Hà, ông Trương Đình Tiến, ông Trần Đại Dương, chức vụ: đều là Cán bộ xử lý nợ Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (theo Giấy ủy quyền số 260389.24 ngày 21/11/2024 và Giấy ủy quyền số 062362.25 ngày 13/3/2025); ông Tiến, ông Dương có mặt.

- 1 -

2. Bị đơn: Ông Trần Văn H, sinh năm 1993; có mặt.

Địa chỉ: Cụm 2, xã L, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (VIB) trình bày: Ngân hàng Thương mại cổ phần Q và ông Trần Văn H ký kết hợp đồng tín dụng như sau:

+ Hợp đồng tín dụng số 103741595.23 ngày 07/12/2023, với số tiền vay 1.500.000.000 đồng (Một tỷ năm trăm triệu đồng); mục đích vay mua ô tô mới tiêu dùng nhãn hiệu FORD EXPLORER LIMITED 2.3L ECOBOOST 10 AT 4WD ST5 2022 theo HĐMB số: 22231768 ngày 01/12/2023; thời hạn vay 96 tháng, từ ngày tiếp theo ngày giải ngân đến ngày 07/12/2031; lãi suất vay tại thời điểm giải ngân 10,00%/năm. Lãi suất này là lãi suất ưu đãi (so với lãi suất thông thường là 14,8%) và chỉ được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên, kể từ ngày giải ngân khoản tín dụng. Hết thời hạn ưu đãi nói trên, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 3 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở cộng biên độ 3,90%/năm. Thông tin về lãi suất cơ sở tại từng thời kỳ được thông báo công khai trên website của VIB hoặc theo hình thức thông báo khác do VIB quyết định trong từng thời kỳ; trả nợ gốc hàng tháng vào ngày 25, từ ngày 25/01/2024 đến ngày 25/11/2031 với số tiền là 15.789.000 VNĐ, dư nợ gốc còn lại trả hết vào cuối kỳ; trả nợ lãi hàng tháng vào ngày 25;

+ Đề nghị phát hành Thẻ tín dụng quốc tế ngày 06/02/2023, hạn mức vay 36.000.000 đồng (Ba mươi sáu triệu đồng), mục đích vay tiêu dùng;

+ Yêu cầu cung cấp dịch vụ thẻ tín dụng ngày 29/11/2023, hạn mức vay 136.000.000 đồng (Một trăm ba mươi sáu triệu đồng), mục đích vay tiêu dùng;

Lãi suất, phí áp dụng với các hợp đồng Thẻ tín dụng trên là 35%/năm và được điều chỉnh theo quy định của VIB trong từng thời kỳ.

Để đảm bảo cho các khoản vay trên thì ông Hưng đã ký kết Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 0025848.23 ngày 07/12/2023, tài sản thế chấp là 01 xe ô tô nhãn hiệu: FORD, số loại: EXPLORER LIMITED 4x4, 2.3LAT, biển kiểm soát: 30K-753.07, Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 29 000490 do Công an huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội cấp ngày 06/12/2023.

Trong thời gian thực hiện hợp đồng tín dụng, ông Trần Văn H đã nhiều lần vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Đến thời điểm ngày 20/11/2024, ông Hưng chỉ trả được số tiền gốc 110.523.000 đồng và tiền lãi là 96.727.595 đồng. Mặc dù VIB đã nhiều lần đôn đốc, tạo điều kiện trả nợ nhưng ông Hưng không trả nợ, khoản nợ của ông Hưng đã chuyển sang nợ quá hạn từ ngày 26/8/2024. Tạm tính đến ngày 23/4/2025, ông Hưng còn nợ VIB với tổng số tiền là 1.713.015.934 đồng, trong đó: Nợ gốc: 1.505.550.384 đồng, nợ lãi trong hạn: 84.996.736 đồng, lãi quá hạn, phí: 122.468.814 đồng. Cụ thể:

+ Dư nợ theo Hợp đồng tín dụng số 103741595.23 ngày 07/12/2023 là 1.529.751.945 đồng, trong đó: Nợ gốc là: 1.389.477.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 51.004.061 đồng, nợ lãi quá hạn: 89.270.884 đồng.

- 2 -

+ Dư nợ theo Đề nghị phát hành Thẻ tín dụng quốc tế ngày 06/02/2023 là 60.183.354 đồng, trong đó: Nợ gốc là: 35.347.524 đồng, nợ lãi trong hạn: 9.336.674 đồng, nợ phí: 15.499.156 đồng.

+ Dư nợ theo Yêu cầu cung cấp dịch vụ thẻ tín dụng ngày 29/11/2023 là 123.080.635 đồng, trong đó: Nợ gốc là: 80.725.860 đồng, nợ lãi trong hạn: 24.656.001 đồng, nợ phí: 17.698.774 đồng.

Ngân hàng yêu cầu ông Trần Văn H trả ngay cho Ngân hàng toàn bộ số tiền còn chưa thanh toán theo quy định tại hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp. Ông Hưng còn phải tiếp tục trả lãi trên số tiền nợ gốc, nợ lãi chậm trả theo mức lãi suất quy định tại hợp đồng tín dụng kể từ ngày 24/4/2025 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ các khoản tiền phải trả VIB theo quy định tại các hợp đồng tín dụng.

Kể từ ngày Bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà ông Trần Văn H không trả được toàn bộ khoản nợ thì VIB có quyền đề nghị cơ quan thi hành án kê biên, phát mại toàn bộ tài sản thế chấp là: 01 xe ô tô nhãn hiệu: FORD, số loại: EXPLORER, biển kiểm soát: 30K-753.07, Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 29 000490 do Công an huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội cấp ngày 06/12/2023, theo Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 0025848.23 ngày 07/12/2023, để thu hồi nợ.

Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả khoản nợ của ông Hưng. Trường hợp nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp không đủ để thanh toán hết khoản nợ thì ông Hưng vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho VIB.

- Theo bản tự khai và các lời khai tiếp theo tại Tòa án, bị đơn ông Trần Văn H trình bày: Về việc vay theo các Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp tài sản đúng như đại diện VIB đã trình bày. Tuy nhiên, việc vay mượn trên là của ông Bùi Văn Thọ, sinh ngày 10/8/1988; địa chỉ: Tổ 3, phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. Ông Thọ có nhờ ông đứng tên hộ khoản vay để mua 01 xe ô tô như Ngân hàng trình bày và ông đồng ý. Giữa ông với ông Thọ không có tài liệu, văn bản thỏa thuận nào liên quan đến khoản nợ cũng như tài sản thế chấp tại Ngân hàng.

Các khoản nợ và tài sản thế chấp tại Ngân hàng cụ thể như sau: Ông và Ngân hàng Thương mại cổ phần Q, Chi nhánh Lý Thường Kiệt, Phòng giao dịch Lê Thánh Tông ký kết Hợp đồng tín dụng số 103741595.23 ngày 07/12/2023, số tiền vay 1.500.000.000 đồng, mục đích vay mua ô tô mới tiêu dùng nhãn hiệu: FORD EXPLORER LIMITED 2.3L ECOBOOST 10 AT 4WD ST5 2022 theo Hợp đồng mua bán số: 22231768 ngày 01/12/2023. Thời hạn vay 96 tháng, từ ngày tiếp theo ngày giải ngân đến 07/12/2031; lãi suất vay tại thời điểm giải ngân 10,00%/năm. Lãi suất này là lãi suất ưu đãi và chỉ được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản tín dụng. Hết thời hạn ưu đãi nói trên, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 3 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở cộng biên độ 3,90%/năm. Trả nợ gốc hàng tháng vào ngày 25, từ ngày 25/01/2024 đến ngày 25/11/2031 với số tiền là 15.789.000 VNĐ, dư nợ gốc còn lại trả hết vào cuối kỳ; trả nợ lãi hàng tháng vào ngày 25.

- 3 -

Ngoài ra, còn 02 khoản thẻ tín dụng, gồm: Đề nghị phát hành Thẻ tín dụng quốc tế ngày 06/02/2023, hạn mức vay 36.000.000 đồng, mục đích vay tiêu dùng; lãi suất, phí theo quy định của VIB trong từng thời kỳ; Yêu cầu cung cấp dịch vụ thẻ tín dụng ngày 29/11/2023, hạn mức vay 136.000.000 đồng, mục đích vay tiêu dùng; lãi suất, phí theo quy định của VIB trong từng thời kỳ.

Để đảm bảo cho các khoản vay trên ông có ký kết Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 0025848.23 ngày 07/12/2023, tài sản thế chấp: 01 xe ô tô nhãn hiệu: FORD, số loại: EXPLORER, biển kiểm soát: 30K-753.07, Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 29 000490 do Công an huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội cấp ngày 06/12/2023.

Sau khi vay thì ông vẫn thực hiện trả nợ, tuy nhiên do ông Thọ không trả nợ cho ông để trả Ngân hàng, nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông trả số nợ của các Hợp đồng tín dụng, tạm tính đến ngày 23/4/2025 với tổng số tiền là 1.713.015.934 đồng, trong đó: Nợ gốc: 1.505.550.384 đồng, nợ lãi trong hạn: 84.996.736 đồng, lãi quá hạn, phí: 122.468.814 đồng, ông đồng ý. Do ông không được sử dụng chiếc xe ô tô, hiện nay ông Thọ vẫn là người đang sử dụng chiếc xe đã thế chấp, ông không biết hiện ông Thọ đang ở đâu nên đề nghị Ngân hàng phối hợp cùng tìm lại chiếc xe ô tô đã thế chấp, để xử lý tài sản đảm bảo cho khoản vay của ông. Sau đó, ông sẽ thống nhất lại với Ngân hàng về cách giải quyết khoản nợ.

- Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn yêu cầu bị đơn ông Trần Văn H trả số tiền còn nợ và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 24/4/2025 cho đến khi thanh toán hết khoản nợ của các hợp đồng tín dụng. Ngoài ra, phía nguyên đơn giữ nguyên các yêu cầu khác với bị đơn như đã trình bày.

Phía ông Trần Văn H xác nhận khoản nợ như phía nguyễn đơn yêu cầu. Ông Hưng đề nghị VIB phối hợp thu hồi chiếc xe ô tô đã thế chấp để thanh toán nợ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà phát biểu ý kiến: Từ khi thụ lý cũng như quá trình điều tra, thu thập chứng cứ vụ án, Toà án đã thực hiện đúng trình tự Bộ luật tố tụng dân sự qui định. Tại phiên toà, Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án đã tuân thủ đúng quy định pháp luật.

Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị: Căn cứ vào Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; các Điều 317, 318, 319, 320, 323, 463, 466 Bộ luật dân sự; Điều 147, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của VIB, buộc ông Trần Văn H phải trả cho VIB số tiền nợ theo các hợp đồng tín dụng, tạm tính đến hết ngày 23/4/2024 gồm tiền nợ gốc, nợ lãi, phí như VIB yêu cầu. Kể từ ngày 24/4/2025 ông Hưng còn phải trả lãi phát sinh cho VIB theo mức lãi suất do các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đến khi thanh toán hết khoản nợ. Trường hợp nếu ông Hưng không trả nợ thì VIB có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi khoản nợ. Ông Hưng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.

- 4 -

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (VIB) và ông Trần Văn H ký kết hợp đồng tín dụng để vay tiền sử dụng vào mục đích mua ô tô. Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, do ông Hưng đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thoả thuận trong hợp đồng nên VIB khởi kiện đòi nợ đối với ông Hưng. Xác định quan hệ pháp luật giải quyết trong vụ án là tranh chấp về hợp đồng tín dụng, được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết tại Tòa án, do các bên đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án nên căn cứ vào Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án đã ra quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Về nội dung vụ án: Căn cứ tài liệu do nguyên đơn xuất trình và lời trình bày của bị đơn, cùng các tài liệu điều tra, xác định: Ông Trần Văn H có ký kết hợp đồng tín dụng với Ngân hàng Thương mại cổ phần Q theo các hợp đồng: Hợp đồng tín dụng số 103741595.23 ngày 07/12/2023 số tiền vay 1.500.000.000 đồng; Đề nghị phát hành Thẻ tín dụng quốc tế ngày 06/02/2023, hạn mức vay 36.000.000 đồng và Yêu cầu cung cấp dịch vụ Thẻ tín dụng ngày 29/11/2023, hạn mức vay 136.000.000 đồng.

Quá trình thực hiện các hợp đồng tín dụng, do ông Hưng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ tiền gốc và tiền lãi theo đúng thoả thuận qui định trong hợp đồng tín dụng đã được hai bên ký kết nên VIB đã chuyển số nợ vay còn lại của ông Hưng sang nợ quá hạn từ ngày 26/8/2024. Từ đó đến nay, do khó khăn về kinh tế nên ông Hưng không tiếp tục trả được nợ cho VIB. Như vậy, có căn cứ xác định ông Hưng vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên VIB khởi kiện đòi nợ là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Về khoản nợ gốc: VIB yêu cầu ông Trần Văn H thanh toán số nợ gốc còn lại của các hợp đồng tín dụng nêu trên, tính đến hết ngày 23/4/2025 tổng là 1.505.550.384 đồng, trong đó: Nợ gốc của Hợp đồng tín dụng số 103741595.23 ngày 07/12/2023 là 1.389.477.000 đồng; nợ gốc theo Đề nghị phát hành Thẻ tín dụng quốc tế ngày 06/02/2023 là 35.347.524 đồng và nợ gốc theo Yêu cầu cung cấp dịch vụ thẻ tín dụng ngày 29/11/2023 là 80.725.860 đồng.

Hội đồng xét xử nhận thấy, số tiền vay gốc được thể hiện trong các hợp đồng tín dụng, khế ước, giấy nhận nợ và các văn bản thanh toán giữa hai bên. Do đó, có căn cứ để chấp nhận yêu cầu của VIB, buộc ông Hưng phải trả VIB số tiền nợ gốc còn lại của các hợp đồng tín dụng tính đến hết ngày 23/4/2025 tổng là 1.505.550.384 đồng.

Về khoản nợ lãi, phí: Theo Hợp đồng tín dụng số 103741595.23 ngày 07/12/2023 thì lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân là 10%/năm. Lãi suất này là lãi suất ưu đãi và chỉ được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản tín dụng. Hết thời hạn ưu đãi nói trên, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 3 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở cộng biên độ 3,90%/năm.

- 5 -

Đề nghị phát hành Thẻ tín dụng quốc tế ngày 06/02/2023 và Yêu cầu cung cấp dịch vụ thẻ tín dụng ngày 29/11/2023 về lãi suất, phí áp dụng với các hợp đồng này là 35%/năm và được điều chỉnh theo quy định của VIB trong từng thời kỳ.

Hội đồng xét xử nhận thấy, về lãi trong hạn, lãi quá hạn và phí đã được các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ, điều khoản và điều kiện cấp thẻ tín dụng giữa VIB và ông Trần Văn H là phù hợp với qui định pháp luật. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu của VIB, buộc ông Hưng phải trả số tiền lãi, phí còn nợ của các hợp đồng tín dụng nêu trên cho VIB.

Tạm tính đến hết ngày 23/4/2025, ông Hưng còn nợ VIB với tổng số tiền nợ lãi trong hạn: 84.996.736 đồng, lãi quá hạn, phí: 122.468.814 đồng. Cụ thể:

+ Hợp đồng tín dụng số 103741595.23 ngày 07/12/2023 nợ lãi trong hạn 51.004.061 đồng, nợ lãi quá hạn 89.270.884 đồng.

+ Đề nghị phát hành Thẻ tín dụng quốc tế ngày 06/02/2023 nợ lãi trong hạn 9.336.674 đồng, nợ phí 15.499.156 đồng.

+ Yêu cầu cung cấp dịch vụ thẻ tín dụng ngày 29/11/2023 nợ lãi trong hạn 24.656.001 đồng, nợ phí 17.698.774 đồng.

Về yêu cầu xử lý tài sản thế chấp: Để đảm bảo cho khoản nợ, ông Hưng đã ký với VIB hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 0025848.23 ngày 07/12/2023. Tài sản thế chấp là 01 xe ô tô nhãn hiệu: FORD, số loại: EXPLORER, biển kiểm soát: 30K-753.07, Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 29 000490 do Công an huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội cấp ngày 06/12/2023 cấp mang tên ông Trần Văn H.

Quá trình giải quyết vụ án, ông Hưng có trình bày ông là người vay tiền hộ cho ông Bùi Văn Thọ, sinh ngày 10/8/1988; địa chỉ: Tổ 3, phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội để ông Thọ mua và sử dụng chiếc xe ô tô thế chấp tại ngân hàng. Tuy nhiên, ông Hưng không xuất trình được văn bản, tài liệu nào thể hiện giữa ông Hưng và ông Thọ có thỏa thuận nhờ vay mượn tiền của VIB, cũng như việc ông Hưng đứng tên mua hộ ông Thọ chiếc xe ô tô. Tòa án đã tiến hành xác minh tại nơi cư trú và triệu tập ông Thọ đến Tòa án để làm việc nhưng ông Thọ không đến, không có mặt tại địa phương. Vì vậy, không có cơ sở để xác định việc vay mượn và sử dụng ô tô giữa ông Hưng và ông Thọ như ông Hưng trình bày. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu của VIB, trong trường hợp ông Hưng không trả nợ hoặc trả không đầy đủ số nợ vay nêu trên thì VIB có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp là 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu FORD mang tên ông Trần Văn H, có đặc điểm như nêu trên, để thanh toán nghĩa vụ trả nợ.

Kể từ ngày 24/4/2025 thì ông Trần Văn H còn phải trả cho VIB khoản tiền lãi suất phát sinh theo mức lãi suất các bên thoả thuận trong các hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết, cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

Khi ông Trần Văn H hoàn thành nghĩa vụ trả nợ thì VIB phải trả lại cho ông Hưng các giấy tờ, tài liệu liên quan đến tài sản thế chấp được ghi nhận trong Hợp đồng thế chấp tài sản hai bên ký kết.

Án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26

- 6 -

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: VIB được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; ông Trần Văn H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo qui định pháp luật.

Quyền kháng cáo: Nguyên đơn VIB, bị đơn ông Trần Văn H có quyền kháng cáo bản án theo qui định tại Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 320, Điều 323, Điều 463 và Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (VIB) đối với ông Trần Văn H.

2. Ông Trần Văn H phải trả Ngân hàng Thương mại cổ phần Q số tiền còn nợ của các hợp đồng tín dụng, tạm tính đến hết ngày 23/4/2025, cụ thể như sau:

+ Hợp đồng tín dụng số 103741595.23 ngày 07/12/2023, gồm: Nợ gốc là 1.389.477.000 đồng, nợ lãi trong hạn 51.004.061 đồng, nợ lãi quá hạn 89.270.884 đồng, tổng là: 1.529.751.945 đồng (Một tỷ năm trăm hai mươi chín triệu bảy trăm năm mươi mốt nghìn chín trăm bốn mươi lăm đồng).

+ Đề nghị phát hành Thẻ tín dụng quốc tế ngày 06/02/2023, gồm: Nợ gốc là 35.347.524 đồng, nợ lãi trong hạn 9.336.674 đồng, nợ phí 15.499.156 đồng, tổng là 60.183.354 đồng (Sáu mươi triệu một trăm tám mươi ba nghìn ba trăm năm mươi tư đồng).

+ Yêu cầu cung cấp dịch vụ thẻ tín dụng ngày 29/11/2023, gồm: Nợ gốc là 80.725.860 đồng, nợ lãi trong hạn 24.656.001 đồng, nợ phí: 17.698.774 đồng, tổng là 123.080.635 đồng (Một trăm hai mươi ba triệu không trăm tám mươi nghìn sáu trăm ba mươi lăm đồng).

Số tiền nợ của 03 hợp đồng tín dụng nêu trên, gồm: Nợ gốc 1.505.550.384 đồng, nợ lãi trong hạn 84.996.736 đồng, lãi quá hạn, phí 122.468.814 đồng, tổng cộng: 1.713.015.934 đồng (Một tỷ bảy trăm hai mười ba triệu không trăm mười lăm nghìn chín trăm ba mươi tư đồng).

3. Kể từ ngày 24/4/2025, ông Trần Văn H còn phải chịu tiền lãi phát sinh của khoản nợ theo mức lãi suất thoả thuận trong các hợp đồng tín dụng đã được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Q với ông Trần Văn H, cho đến khi ông Hưng trả hết khoản nợ (Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc

- 7 -

điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay).

4. Trường hợp ông Trần Văn H không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Q có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản thế chấp để thu hồi khoản nợ. Tài sản thế chấp 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu: FORD, số loại: EXPLORER, màu sơn: Xanh, loại xe: Ô tô con, số máy: NGB89800H, số khung: 1FMSK8FH8NGB89800, biển số đăng ký: 30K-753.07, giấy Chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 29 000490 do Công an huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội cấp ngày 06/12/2023 mang tên ông Trần Văn H; theo Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 0025848.23 ngày 07/12/2023 giữa ông Trần Văn H với Ngân hàng Thương mại cổ phần Q.

5. Khi ông Trần Văn H hoàn thành nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Q phải trả lại cho ông Hưng các giấy tờ, tài liệu liên quan đến tài sản thế chấp được ghi nhận trong hợp đồng thế chấp tài sản hai bên ký kết.

6. Án phí: Ông Trần Văn H phải chịu số tiền là 63.390.000 đồng (Sáu mươi ba triệu ba trăm chín mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Trả lại Ngân hàng Thương mại cổ phần Q số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 29.500.000 đồng (Hai mươi chín triệu năm trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010511 ngày 25/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội.

7. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Q và bị đơn ông Trần Văn H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 26 luật thi hành án dân sự.

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- 8 -

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND thành phố Hà Nội;

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- VKSND huyện Đan Phượng;

- CCTHADS huyện Đan Phượng;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Doãn Văn Tuyến

- 9 -

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ