- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Thị Kim Oanh - Đ 249 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trương Thị Kim O phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. 2.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHƯỚC LONG TỈNH BÌNH PHƯỚC ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2024/HS-ST Ngày 28 - 02 -2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHƯỚC LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Tịnh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Tạ Đình Thành
Ông Phạm Khoa Nam
- Thư ký phiên tòa: ông Trần Thanh Tùng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Văn - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 02 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 01 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 02 năm 2024, đối với bị cáo: Trương Thị Kim O, sinh năm: 1994, tại Vũng Tàu; quê quán: Quảng Trị; nơi đăng ký hộ khẩu: ấp H, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa
- Vũng Tàu; nghề nghiệp: (không); dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: (không); quốc tịch: Việt Nam; trình độ hộc vấn: 02/12; cha (không có), mẹ: Trương Thị C; bị cáo có hai người con lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm: 2019; bị cáo không có chồng; tiền sự, tiền án: (không); bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/10/2023 cho đến nay. Có mặt.
- Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị Thúy N, sinh năm: 1971, trú tại: khu phố L, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước. Vắng mặt. Bà Phạm Nhật T, sinh năm: 1960; địa chỉ: khu phố L, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trương Thị Kim O là người nghiện nghiện ma túy, khoảng 15giờ, ngày 16/10/2023, O gọi điện mua ma túy của một đối tượng không rõ nhân thân, với số tiền là 1.000.000đ. Sau khi nhận ma túy O cất giấu ma túy tại phòng trọ của mình, thuộc khu phố L, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước. khoảng 17 giờ 15 phút cùng ngày, O bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Vật chứng thu giữ: 01 gói nylon dạng khóa miết kích thước ( 8 x4 ) cm bên trong có chứa chất màu trắng, O khai nhận là ma túy và 01 bộ dụng cụ sử dụng chất ma túy (01 nỏ thủy tinh, 01 ống hút và 01 chai nhựa).
Trong quá trình điều tra, O khai nhận số ma túy trên O đã mua của một đối tượng không rõ nhân thân. Mục đích O mua ma túy về để sử dụng.
Tại Kết luận giám định số 1606/KL - KTHS ngày 19/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: tinh thể màu trắng có trong 01 túi nylong, hàn kín (ký hiệu M) được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng là 0,6627 (không phẩy sáu sáu hai bảy) gam, loại Methamphetamine.
Tại bản cáo trạng số: 06/2024/CT – VKS ngày 10/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long đã truy tố Trương Thị Kim O tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát thực hiện quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trương Thị Kim O tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa: bị cáo đã thành khẩn khai báo, hiện bị cáo một mình đang nuôi hai con nhỏ nên đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trương Thị Kim O từ 20 tháng đến 24 tháng tù.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Đề nghị tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định là 0,5004 gam và 01 bộ dụng cụ sử dụng chất ma túy (01 nỏ thủy tinh, 01 ống hút và 01 chai nhựa).
Bị cáo tự bào chữa: Bị cáo thừa nhận hành vi đã thực hiện đúng như cáo trạng truy tố; không có lời bào chữa nào khác. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ăn năn về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với người làm chứng ông Nguyễn Thị Thúy N, bà Nguyễn Nhật T1 vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy quá trình điều tra đã có đầy đủ lời khai, nên việc vắng mặt những người làm chứng không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án. Căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt người làm chứng.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 16/10/2023, lập tại khu phố L, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước; lời khai nhận tội của bị cáo còn phù hợp với lời khai của người làm chứng trong quá trình điều tra; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Qua đó có cơ sở xác định: ngày 16/10/2023, Trương Thị Kim O đã có hành vi tàng trữ 01 gói nylon dạng khóa miết kích thước (8 x 4) cm bên trong có chứa ma túy (Methamphetamine), có khối lượng 0,6627 (không phẩy sáu sáu hai bảy) gam, được cất giấu tại phòng trọ nơi ở của bị cáo. Số ma túy mà bị cáo tàng trữ là để sử dụng không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy.
Khi thực hiện hành vi bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được chất ma túy là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên hành vi của bị cáo Trương Thị Kim O đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 BLHS năm 2015. Loại ma túy bị cáo tàng trữ là loại Methamphetamine, có khối lượng 0,6627 (không phẩy sáu sáu hai bảy) gam nên Viện kiểm sát truy tố và luận tội bị cáo theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật. [4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Ngoài ra còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội ở địa phương. Bị cáo là người nghiện ma túy, biết rõ các tác hại của ma túy nhưng bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, việc áp dụng hình phạt tù tương xứng với hành vi và hậu quả do bị cáo gây ra là cần thiết nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo có ý thức tôn trọng pháp luật và phòng ngừa chung. [5] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào; có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: “Thành khẩn khai báo”, bị cáo một mình nuôi hai con nhỏ Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. [6] Về hình phạt bổ sung: xét bị cáo không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. [7] Về quan điểm của Kiểm sát viên về tội danh, hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp với qui định pháp luật, phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. [8] Đối với đối tượng bán ma túy cho O hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch cụ thể nên chưa có căn cứ xử lý. Đề nghị cơ quan Điều tra tiếp tục làm rõ để xử lý theo quy định.
Về vật chứng của vụ án: đối với số ma túy Methamphetamine khối lượng 00,5004 gam còn lại sau giám định và 01 bộ dụng cụ sử dụng chất ma túy (01 nỏ thủy tinh, 01 ống hút và 01 chai nhựa). Cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự .
Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trương Thị Kim O phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. 2. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 38, 50 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Trương Thị Kim O 20 (Hai mươi) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 16/10/2023. 3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; Tiêu hủy số ma túy Methamphetamine khối lượng 0,5004 gam (không phẩy năm không không bốn) gam còn lại sau giám định và 01 bộ dụng cụ sử dụng chất ma túy (01 nỏ thủy tinh, 01 ống hút và 01 chai nhựa).
(Tất cả theo biên bản ngày 27 tháng 02 năm 2024, về việc giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã P và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phước Long). 4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
B caùo phaûi chòu 200.000 ñoàng (Hai traêm nghìn ñoàng) aùn phí hình söï sô thaåm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 và 337 của Bộ luật tố tụng hình sự. Bò caùo coù maët coù quyeàn khaùng caùo baûn aùn naøy trong thôøi haïn 15 ngaøy, keå töø ngaøy tuyeân aùn (ngày 28/02/2024).
“Tröôøng hôïp baûn aùn ñöôïc thi haønh theo quy ñònh taïi Ñieàu 2 Luaät Thi haønh aùn daân söï thì ngöôøi ñöôïc thi haønh aùn daân söï, ngöôøi phaûi thi haønh aùn daân söï coù quyeàn thoûa thuaän thi haønh aùn, quyeàn yeâu caàu thi haønh aùn, töï nguyeän thi haønh aùn hoaëc bò cöôõng cheá thi haønh aùn theo quy ñònh taïi caùc ñieàu 6, 7 vaø 9 Luaät Thi haønh aùn daân söï; thôøi hieäu thi haønh aùn ñöôïc thöïc hieän theo quy ñònh taïi Ñieàu 30 Luaät Thi haønh aùn daân söï”.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh Bình Phước; - VKSND thị xã Phước Long; - Chi cục THADS thị xã Phước Long; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án, Tòa án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Thị Tịnh |