- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Đức T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số 742MT/PC09 chứa ma túy còn lại sau giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải…
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2024/HS-ST Ngày 24-01-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Hảo
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lý Thị Thiên Nga
Bà Hà Thị Mão
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Loan - Thư ký Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến với điểm cầu Trung tâm tại Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam - Công an thành phố Hải Phòng đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:
Bùi Đức T, sinh ngày 12 tháng 11 năm 1988 tại Hải Phòng. Nơi đăng ký thường trú: Đường L, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng; nơi tạm trú: Đường L, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Đức Thắng và bà Phạm Hương Huyền; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Tại Bản án số 158/2020/HS-ST ngày 10/11/2020, Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án số 131/2006/HSST ngày 11/9/2006, Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xử phạt 30 tháng tù về tội Cướp tài sản; tại Quyết định số 34/QĐ-CA ngày 03/8/2019, Công an quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản; bị bắt, tạm giữ ngày 18/9/2023; tạm giam ngày 22/9/2023; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do buồn chán chuyện gia đình nên Bùi Đức T nảy sinh ý định mua ma túy về để sử dụng. Qua quan hệ xã hội, T biết Sơn (chưa xác định được lai lịch) có bán ma túy ở khu vực bờ mương Cầu Tre, phường Vạn Mỹ, quận Ngô Quyền, thành phố Hài Phòng. Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 18/9/2023, T đi bộ từ nhà tại số 284 đường Lê Lai, phường Máy Chai, quận Ngô Quyền, thành phố Hài Phòng đến khu vực đường bờ mương Cầu Tre gặp và mua của Sơn 01 gói ma túy đá với giá 300.000 đồng. Mua xong, T cầm gói ma túy trong lòng bàn tay phải và đi bộ về hướng đường Lê Thánh Tông để tìm nơi sử dụng thì bị Tổ công tác Công an quận Ngô Quyền bắt quả tang vào khoảng 18 giờ cùng ngày tại khu vực đường bờ mương Cầu Tre, phường Vạn Mỹ, quận Ngô Quyền, thành phố Hài Phòng.
Vật chứng thu giữ: Thu giữ trong lòng bàn tay phải của T 01 gói nilon kích thước khoảng 02cm x 02cm bên trong chứa tinh thể màu trắng và 01 điện thoại di động Landrover đã qua sử dụng kèm theo sim điện thoại 0782141475.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của Bùi Đức T không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì liên quan đến hành vi phạm tội.
Tại Kết luận giám định số 742/KL-KTHS(MT) ngày 21/9/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy; có khối lượng: 0,13 gam; loại: Methamphetamine.
Xét nghiệm nước tiểu của Bùi Đức T cho kết quả dương tính với chất ma túy Methamphetamin.
Về vật chứng: 01 điện thoại di động Landrover có số Imei 353259054574681 đã qua sử dụng kèm theo sim điện thoại 0782141475 và 01 phong bì niêm phong số 742MT/PC09 bên trong gồm 0,07 gam tinh thể cùng vỏ bao gói hoàn lại sau giám định chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng quản lý.
Tại Bản Cáo trạng số 06/CT-VKSNQ ngày 03/01/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Bùi Đức T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo Bùi Đức T khai nhận hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Kiểm sát viên tại phiên toà, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Bùi Đức T với mức án từ 24 tháng đến 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong chứa chất ma túy còn lại sau giám định; trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động Landrover có số Imei 353259054574681 đã qua sử dụng kèm theo sim điện thoại 0782141475 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
- Về tội danh:
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi của mình phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, nội dung bản cáo trạng và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 18/9/2023, tại khu vực bờ mương Cầu Tre, phường Vạn Mỹ, quận Ngô Quyền, thành phố Hài Phòng, Công an quận Ngô Quyền đã bắt quả tang Bùi Đức T có hành vi cất giấu trái phép 0,13 gam Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân. Như vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng với quy định của pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma tuý, xâm phạm trật tự trị an xã hội, làm phát sinh nhiều loại tội phạm hình sự khác. Vì vậy, cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm.
- Về nhân thân và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo có 01 tiền án và 01 tiền sự đã được xóa: Tại Bản án số 131/2006/HSST ngày 11/9/2006, Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xử phạt 30 tháng tù về tội Cướp tài sản; tại Quyết định số 34/QĐ-CA ngày 03/8/2019 Công an quận Ngô Quyền xử phạt hành chính về tội Trộm cắp tài sản nhưng cho thấy bị cáo có nhân thân xấu, ý thức chấp hành pháp luật kém. Ngoài ra, bị cáo còn có 01 tiền án chưa được xóa: Tại Bản án số 158/2020/HS-ST ngày 10/11/2020, Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Do vậy, lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt bổ sung:
Do bị cáo không có tài sản và thu nhập nên không cần thiết bắt bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
- Về việc xử lý vật chứng:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, cần tịch thu tiêu huỷ vật chứng là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ là 01 phong bì niêm phong số 742MT/PC09 chứa ma túy còn lại sau giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng; trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động Landrover có số Imei 353259054574681 đã qua sử dụng kèm theo sim điện thoại 0782141475 do không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng cần tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí:
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án:
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Đối với người đàn ông tên Sơn bán ma túy cho Bùi Đức T, Cơ quan điều tra chưa xác định được căn cước, lai lịch nên chưa có căn cứ xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bùi Đức T 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 18/9/2023.
- Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số 742MT/PC09 chứa ma túy còn lại sau giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng; trả lại cho bị cáo Bùi Đức T 01 điện thoại đã qua sử dụng nhãn hiệu Landrover có số Imei 353259054574681 có lắp sim số 0782141475 theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/01/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng nhưng tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Bùi Đức T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo Bùi Đức T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND thành phố Hải Phòng; - VKSND quận Ngô Quyền; - Công an quận Ngô Quyền; - Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền; - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an quận Ngô Quyền; - Chi cục THADS quận Ngô Quyền; - Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng; - Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng; - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng; - Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Hảo THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Hảo |