- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ma Đức S phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Ma Đức S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2024/HS-ST Ngày 21-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành Nhật và bà Trần Thị Hương Ly
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thu Uyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện VKSND huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Lưu Tuân – Kiểm sát viên và Bà Nguyễn Thị Cảnh - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 5 năm 2024 tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 12/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2024 đối với:
- Bị cáo: Ma Đức S; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 02 tháng 11 năm 1988; Nơi sinh: tại tỉnh Thái Nguyên; Nơi cư trú: xóm TT, xã TN, huyện VN, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Ma Văn H, Sinh năm 1962 và bà Lương Thị T – sinh năm 1962; Anh chị em ruột: Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ 04; Vợ, con: Không có; Tiền án, Tiền sự: Không.
- Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/01/2024 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Võ Nhai, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Vi Khánh Phượng - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thái Nguyên, có mặt.
- Người chứng kiến: Ông Lương Thanh T, sinh năm 1982, vắng mặt.
Địa chỉ: Xóm TT, xã TN, huyện VN, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 30 phút ngày 05/01/2024 Công an xã TN nhận được tin báo của quần chung nhân dân với nội dung có đối tượng có biểu hiện tàng trữ trái phép chất ma tuý tại xóm TT, xã TN, huyện VN, tỉnh Thái Nguyên. Công an xã TN thành lập tổ công tác xác minh thông tin trên. Khi đến đoạn đường thuộc xóm TT, xã TN, huyện VN, tỉnh Thái Nguyên đã phát hiện một nam thanh niên đang đi bộ một mình theo hướng xã Cúc Đường vào TN có biểu hiện nghi vấn vi phạm pháp luật nên đã yêu cầu kiểm tra. Quá trình làm việc nam thanh niên khai tên là Ma Đức S - sinh năm 1988, trú tại xóm TT, xã TN, huyện VN, tỉnh Thái Nguyên và khai nhận đang cất giữ ma túy loại Heroine trên người. S đã tự tay lấy từ túi quần phía trước bên phải chiếc quần S đang mặc ra 01 gói ma túy được gói bằng mảnh giấy bạc màu vàng ra giao nộp cho tổ công tác. Tổ công tác đã kiểm tra thấy bên trong gói giấy bạc màu vàng chứa chất bột màu trắng. S khai nhận đó là ma tuý, loại Heroine của S để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiên hành tạm giữ, niêm phong 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng do Ma Đức S giao nộp như đã nêu ở trên vào phong bì kín ký hiệu là A1đồng thời tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Ma Đức S về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Sau đó, chuyển vật chứng và bàn giao Ma Đức S cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Võ Nhai để giải quyết theo thẩm quyền.
Cùng ngày tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng và lấy mẫu vật giám định đối với 01 gói chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A1 đã xác định được khối lượng là 0,256 gam. Đã lấy toàn bộ số chất bột màu trắng niêm phong vào phong bì ký hiệu M để gửi giám định.
Tại bản Kết luận giám định số 193/KL-KTHS ngày 13/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Chất bột màu trắng đựng trong phong bì niêm phong ký hiệu M gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có tổng khối lượng là 0,256 gam.
Tại Cơ quan điều tra, Ma Đức S khai nhận: Bản thân S là người nghiện ma túy. Khoảng 9 giờ 30 phút sáng ngày 05/01/2024, S đi nhờ xe máy của một người không quen biết từ xóm TT, xã TN, huyện VN đến khu vực xóm Phố, xã La Hiên, huyện Võ Nhai với mục đích mua ma tuý sử dụng cho bản thân. Khi đi đến khu vực chợ La Hiên, thuộc xóm Phố, xã La Hiên, S đã gặp một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ, qua giao dịch S đã mua của người đàn ông này 01 gói ma túy loại Heroine với giá 300.000 đồng. Sau khi mua xong S cất gói ma tuý vừa mua được ở túi quần phía trước bên phải chiếc quần S đang mặc, rồi xin đi nhờ xe của một người đàn ông không quen biết quay về xã TN. Khi đi đến khu vực chợ thuộc xóm Trung Thành, xã TN, S xuống xe, và đi bộ tìm nơi vắng để sử dụng, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác Công an xã TN phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng như đã nêu trên.
Tại bản Cáo trạng số 13/CT-VKSVN ngày 12/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Ma Đức S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Kết thúc phần xét hỏi, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai đã trình bày bản luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Ma Đức S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt Ma Đức S từ 18 đến 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/01/2024 . Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong kín ký hiệu M bên trong có 0,236 gam mẫu M còn lại sau giám định và vỏ bao gói; 01 phong bì ký hiệu V bên trong có 01 mảnh giấy bạc màu vàng và 01 vỏ phong bì ký hiệu A1. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Ý kiến phát biểu của bà Vi Khánh Phượng bào chữa cho bị cáo S: Nhất trí với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh như đã nêu và nhất trí với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như Viện kiểm sát đề nghị. Sau khi phân tích đánh giá chứng cứ và những hành vi phạm tội của bị cáo thấy bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, bị cáo có nhân thân tốt, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
Từ những viện dẫn nêu trên người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng mức án như Viện kiểm sát đề nghị. Về hình phạt bổ sung và án phí, miễn cho bị cáo do bị cáo thuộc hộ nghèo, là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn.
Bị cáo S không có ý kiến bổ sung thêm và không tranh luận với Viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Võ Nhai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về nội dung: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xác định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai truy tố là đúng người, đúng tội.
Xét thấy, lời nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa là tự nguyện, khách quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người người làm chứng, vật chứng đã thu giữ, Kết luận giám định và các tài liệu khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, đã có đủ cơ sở để xác định: Hồi 11 giờ 45 phút ngày 05/01/2024, tại đoạn đường thuộc xóm TT, xã TN, huyện VN, Ma Đức S đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,256 gam Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Tổ công tác Công an xã TN, huyện VN phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Hành vi nêu trên của bị cáo Ma Đức S đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Nội dung điều luật quy định như sau:
“1. Người nào tàng trữ trái phép trái chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a)…
c) Heroine,...có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.”
Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo phải chịu hình phạt mà điều luật đã quy định.
. Xét tính chất hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc dược của Nhà nước, làm mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Ma túy là một loại độc dược gây nghiện khi sử dụng nó sẽ làm con người bị lệ thuộc và mất đi nhân cách, nó còn là một trong những nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác. Hành vi nêu trên của bị cáo bị pháp luật ngăn cấm, bị xã hội lên án, do đó cần phải bị xử phạt mức án nghiêm khắc để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
. Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thì thấy:
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong vụ án này Ma Đức S được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Về nhân thân: Bị cáo xuất thân từ gia đình làm nông nghiệp, khi còn nhỏ học hết lớp 12/12 sau đó nghỉ học ở nhà lao động tự do, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, là đối tượng nghiện ma tuý.
. Căn cứ vào tính chất, mức độ tội phạm do bị cáo thực hiện, sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng cần thiết xử phạt bị Ma Đức S buộc cách ly xã hội mới đủ điều kiện để giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Đồng thời cần tiếp tục tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng, bản thân bị cáo là người nghiện chất ma túy, quá trình điều tra. Quá trình điều tra giải quyết vụ án xác định bị cáo sống chung với mẹ đẻ, không có tài sản riêng và là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về vật chứng của vụ án cần được xử lý như sau:
- 01 phong bì niêm phong kín ký hiệu M bên trong có 0,236 gam mẫu M còn lại sau giám định và vỏ bao gói; 01 phong bì ký hiệu V bên trong có 01 mảnh giấy bạc màu vàng và 01 vỏ phong bì ký hiệu A1. Đây là số ma túy còn lại sau giám định cấm sử dụng lưu hành và các vỏ bao bì không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
. Về nguồn gốc Heroine thu giữ của Ma Đức S, quá trình điều tra bị cáo S khai mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực chợ thuộc xóm Phố, xã La Hiên, huyện Võ Nhai. Nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác định người đã bán ma túy cho S ngày 05/01/2024 để mở rộng điều tra làm rõ.
. Về án phí: Bị cáo lẽ ra phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, tuy nhiên do bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và tại phiên tòa bị cáo có đơn xin miễn án phí. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
. Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai tại phiên toà về áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng, khung hình phạt và các vấn đề liên quan trong vụ án đối với bị cáo là phù hợp.
. Xét ý kiến của người bào chữa cho bị cáo trong vụ án về hình phạt và các vấn đề có liên quan đối với bị cáo là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Ma Đức S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Ma Đức S 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/01/2024.
Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, Quyết định tạm giam bị cáo Ma Đức S 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo việc thi hành án.
2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong kín ký hiệu M bên trong có 0,236 gam mẫu M còn lại sau giám định và vỏ bao gói; 01 phong bì ký hiệu V bên trong có 01 mảnh giấy bạc màu vàng và 01 vỏ phong bì ký hiệu A1.
(Vật chứng đã được chuyển đến Chi cục THADS huyện Võ Nhai theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Võ Nhai với Chi cục THA dân sự huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên ngày 10/4/2024).
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
- Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Ma Đức S.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKS ND huyện Võ Nhai; - Công an huyện Võ Nhai; - Chi cục THADS huyện Võ Nhai; - Bị cáo; - Lưu: HS, VT, THAHS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hoàng Thị Hương |