vanban.org

Bản án 11/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bình Chánh, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 15/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Đỗ Quốc T 05 (năm) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/8/2023.

Phạt bổ sung bị cáo Đỗ Quốc T 10.000.000 (mười triệu) đồng nộp vào sung quỹ nhà nước. Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2025, được sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "ĐỖ QUỐC TRUNG - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Đỗ Quốc T 05 (năm) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/8/2023.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị; Điều 251 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2024/HS-ST
Ngày: 15-01-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ

MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Duy Linh.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Nga – Bà Hoàng Thị Vân

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị M - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 01 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 332/2023/TLST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 343/2023/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Đỗ Quốc T, sinh năm: 1995 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký thường trú; 198/14/2 G, Khu phố I, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: như trên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo; Không; Trình độ học vấn; 10/12; Nghề Nghiệp: Tự do; Con ông Đỗ Đức H, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị Kim T1, sinh năm 1972; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: không, Tiền sự: không.

Bắt phạm tội quả tang từ ngày 27/8/2023 cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ ngày 27/8/2023, Công an xã V kết hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện B tuần tra, khi đến trước địa chỉ E Q, tổ A, ấp E, xã V, huyện B phát hiện Đỗ Quốc T đang ngồi trên xe mô tô Honda Wave biển số 59P2-602.32 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, Công an phát hiện trong cốp xe biển số 59P2-602.32 có 01 túi da màu đen, bên trong có 01 gói nylon hàn kín chứa tinh thể rắn không màu mà T khai nhận là ma túy tổng hợp (hàng đá) của T cất giữ để bán cho người khác. Do đó, lực lượng Công an đã tiến hành lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng và đưa T về trụ sở Công an xã V lập hồ sơ, ban đầu chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B điều tra, xử lý. Kết quả xét nghiệm cho thấy T dương tính với ma túy loại Methamphetamine.

Qua khám xét khẩn cấp tại nơi ở của T tại 1 G, Khu P, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, Công an phát hiện và thu giữ trong hộp kim loại trên giường ngủ của T 01 gói nylon hàn kín chứa tinh thể không màu mà T khai nhận là ma túy tổng hợp để bán cho người khác và một số dụng cụ để phân chia ma túy.

Kết luận giám định số 9485/KL-KTHS ngày 06/9/2023 của Phòng K - Công an Thành phố H xác định:

Gói 1: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon hàn kín thu giữ trong cốp xe mô tô biển số 59P2-602.32 của Đỗ Quốc T có trọng lượng 1,3128 gam là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine.

Gói 2: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon hàn kín thu giữ tại nhà của Đỗ Quốc T có trọng lượng 1,6496 gam là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine.

Như vậy, tổng trọng lượng ma túy thu giữ của Đỗ Quốc T là 2,9624 gam loại Methamphetamine.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, Đỗ Quốc T khai nhận: Bản thân nghiện ma túy, để có tiền mua ma túy sử dụng, T bắt đầu hoạt động mua bán ma túy khoảng 01 tuần trước khi bị phát hiện. Vào khoảng 06 giờ ngày 27/8/2023, do hết ma túy để bán nên T gọi đến số điện thoại 0933157397 của một người đàn ông tên T2 (không rõ lai lịch) hỏi mua 1.000.000 đồng ma túy hàng đá, T2 đồng ý và hẹn giao dịch tại Chùa P trên đường B, phường B, quận B. Sau đó, T đến điểm hẹn mua được 01 gói ma túy với giá 1.000.000 đồng của T2. T đem ma túy về nhà địa chỉ 1 G, Khu phố I, phường B, quận B lấy ra một ít để sử dụng cho bản thân rồi phân chia ma túy thành 02 gói nhỏ, cất giữ trong nhà để bán cho người khác kiếm lời. Vào khoảng 17 giờ cùng ngày, có 01 người phụ nữ (không rõ lai lịch) sử dụng tài khoản Zalo “Bà C” liên lạc qua Zalo của T hỏi mua 850.000 đồng ma túy, T đồng ý và hẹn địa điểm giao dịch tại trước Khách sạn Anh Đ, đường Q, ấp E, xã V, huyện B. Tiếp đó, T lấy 01 gói ma túy bỏ vào túi da màu đen, cất giữu trong cốp xe mô tô biển số 59P2-602.32 rồi điều khiển xe đến địa điểm để bán ma túy cho “Bà C”, khi vừa đến điểm hẹn thì bị Công an kiểm tra phát hiện, bắt quả tang. Ngoài ra, T khai nhận trước đây đã bán ma tuý cho “Bà C” một lần vào ngày 22/8/2023 với giá 200.000 đồng.

Vật chứng thu giữ:

- 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, qua giám định xác định là ma túy ở thể rắn, có trọng lượng 1,3128 gam, loại Methamphetamine.

- 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, qua giám định xác định là ma túy ở thể rắn, có trọng lượng 1,6496 gam, loại Methamphetamine.

- 01 điện thoại di động hiệu OPPO F11 cùng 02 sim.

- 01 điện thoại di động hiệu S J6 cùng 02 sim.

- 01 xe mô tô hiệu Honda Wave RSX biển số 59P2-602.32.

- Các dụng cụ để phân chia ma túy gồm: 01 túi da màu đen, 01 hộp kim loại màu trắng, 02 cây kéo bằng kim loại, 01 cân điện tử, 01 ống hút nhựa, 05 bịch nylon chưa qua sử dụng. Tại bản cáo trạng số: 03/CT-VKS ngày 14 tháng 12 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Đỗ Quốc T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 và khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. * Tại phiên tòa

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 và khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Đỗ Quốc T từ 05 năm đến 06 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, phạt bổ sung bị cáo Đỗ Quốc T từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng để sung quỹ Nhà nước. Đề nghị xử lý vật chứng:

- Tịch thu và tiêu hủy: 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, qua giám định xác định là ma túy ở thể rắn, có trọng lượng 1,3128 gam, loại Methamphetamine; 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, qua giám định xác định là ma túy ở thể rắn, có trọng lượng 1,6496 gam, loại Methamphetamine; Các dụng cụ để phân chia ma túy gồm: 01 túi da màu đen, 01 hộp kim loại màu trắng, 02 cây kéo bằng kim loại, 01 cân điện tử, 01 ống hút nhựa, 05 bịch nylon chưa qua sử dụng.

- Tịch thu và nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu S J6 cùng 02 sim.

- Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu OPPO F11 cùng 2 sim.

- Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã trả lại cho bà Nguyễn Thị Kim T1 01 xe mô tô hiệu Honda Wave RSX biển số 59P2-602.32.

Bị cáo Đỗ Quốc T khai nhận hành vi như trên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan điều tra, truy tố trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà, bị cáo Đỗ Quốc T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình giống như nội dung cáo trạng đã truy tố. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do công an xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh lập lúc 18 giờ 10 phút ngày 27/8/2023 cùng các chứng cứ, tài liệu, tang vật có trong hồ sơ vụ án và kết quả thẩm tra tại phiên tòa. Vì muốn có tiền để mua ma tuý sử dụng bị cáo T bắt đầu nảy sinh ý định hoạt động mua bán ma tuý, ngày 27/8/2023 bị cáo T điều khiển xe mô tô biển số 59P2-602.32 và mang theo ma túy đến trước Khách sạn A Đ, đường Q, Ấp E, xã V, huyện B để bán cho một người tên “bà C” (không rõ lai lịch) 01 gói heroin với giá 850.000 đồng thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang như đã nêu trên. Kết quả giám định xác định là ma túy ở thể rắn, có trọng lượng 1,3128 gam, loại Methamphetamine. Ngoài ra, khám nơi ở của bị cáo phát hiện 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, qua giám định xác định là ma túy ở thể rắn, có trọng lượng 1,6496 gam, loại Methamphetamine, lượng ma túy này bị cáo thừa nhận là tàng trữ để bán cho con nghiện. Như vậy, tổng số lượng ma túy bị bắt quả tang bị cáo tàng trữ để mua bán, thông qua kết quả giám định có tổng trọng lượng 2,9624 gam loại Methamphetamine. Trong vụ án này, mặc dù không bắt được người mua ma túy của bị cáo, nhưng ý thức chủ quan của bị cáo tàng trữ số ma túy nêu trên là để bán cho các con nghiện và lời thừa nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bị cáo đã đủ tuổi trưởng thành, nhận thức được ma tuý là chất độc hại, một loại hàng đặc biệt nhà nước độc quyền quản lý, bất kỳ ai vi phạm đến ma tuý, tuỳ tính chất mức độ đều bị xử lý bằng luật hình sự. Song bị cáo không biết ăn năn hối cải, vì muốn có tiền để mua ma tuý sử dụng và không tuân thủ pháp luật nên bị cáo đã tiếp tục dấn thân vào con đường phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, hành vi mua bán trái phép chất ma tuý của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự trong vụ án này. Hội đồng xét xử xét thấy cần xét xử bị cáo một mức hình phạt thật nghiêm khắc để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Trong vụ án này bị cáo thừa nhận bán ma túy cho “bà C” được 02 lần, tuy nhiên chưa lấy được lời khai của “bà C” cũng như chứng cứ trong hồ sơ vụ án chỉ thể hiện bị cáo bán ma túy cho bà C trong ngày 27/8/2023, nên không đủ căn cứ xác định bị cáo “phạm tội từ 02 lần trở lên”.

Đối với người tên “Tý” bán ma túy cho T tại khu vực Chùa P trên đường B, phường B, quận B và người phụ nữ có tài khoản Zalo tên “Bà C” đặt mua ma tuý của T, do không xác định được lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B tiếp tục truy xét, khi nào xác định được lai lịch thì làm rõ và xử lý sau.

Tình tiết giảm nhẹ: xét thấy trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

Trong vụ án này, bị cáo tàng trữ ma túy để mua bán trái phép nhằm thu lợi bất chính nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự, buộc bị cáo nộp phạt một khoản tiền nhất định để nộp ngân sách Nhà nước.

Về vật chứng vụ án:

01 xe mô tô hiệu Honda Wave RSX biển số 59P2-602.32, qua xác minh do mẹ ruột của T là bà Nguyễn Thị Kim T1 đứng tên chủ sỡ hữu. Vào ngày 27/8/2023, T hỏi mượn xe của bà T1 để đi công việc. Bà T1 không biết T sử dụng xe mô tô để đi bán ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã trả xe mô tô cho bà T1 nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

01 gói nylon chứa tinh thể không màu có trọng lượng 1,2333 gram, loại Methamphetamine và 01 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy ở thể rắn, có trọng lượng 1,6496 gram, loại Methamphetamine (trọng lượng còn lại sau giám định). Xét đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị sử dụng nên tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

01 túi da màu đen, 01 hộp kim loại màu trắng, 02 cây kéo bằng kim loại, 01 cân điện tử, 01 ống hút nhựa, 05 bịch nylon chưa qua sử dụng. Đây là công cụ dùng vào việc phạm tội và không có giá trị sử dụng nên tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

01 điện thoại di động hiệu S J6 cùng 2 sim. Đây là tài sản của bị cáo T sử dụng làm phương tiện phạm tội nên tịch thu và nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

01 điện thoại di động hiệu OPPO F11 cùng 2 sim là tài sản của bị cáo T không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần giao trả lại cho bị cáo T.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét chấp nhận quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị về tội danh, khung hình phạt đối với bị cáo cũng như xử lý vật chứng vụ án và chấp nhận đề nghị của bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 và khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Đỗ Quốc T 05 (năm) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/8/2023.

Phạt bổ sung bị cáo Đỗ Quốc T 10.000.000 (mười triệu) đồng nộp vào sung quỹ nhà nước.

2. Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2025, được sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

* Tịch thu và tiêu hủy:

- 01 (gói) nylon chứa tinh thể không màu, qua giám định là ma tuý thể rắn, có tổng khối lượng 1,2333 gam (còn lại sau giám định), loại Methamphetamine (hiện để trong 01 (một) bìa thư được niêm phong dán kín bên ngoài có các chữ ký, ghi tên Đỗ Quốc T (đương sự), Phan Duy T3 (người chứng kiến), Đặng Xuân H1 (Điều tra viên), Trung tá Trịnh Hoàng L (P.Trưởng Công an xã) và hình dấu của Công an xã V, huyện B ghi số vụ 1910/2023);

- 01 (gói) nylon chứa tinh thể không màu, qua giám định là ma tuý thể rắn, có tổng khối lượng 1,5795 gam (còn lại sau giám định), loại Methamphetamine (hiện để trong 01 (một) bìa thư được niêm phong dán kín bên ngoài có các chữ ký, ghi tên Đỗ Quốc T (đương sự), Trịnh Thị Bình M1 (người chứng kiến), Nguyễn Thanh H2 (Điều tra viên), Trung tá Bùi Văn H3 (Trưởng Công an phường) và hình dấu của Công an phường B, quận B ghi số vụ 1910/2023).

- 01 (một) túi da màu đen, 01 (một) hộp kim loại màu trắng, 02 (hai) cây kéo bằng kim loại, 01 (một) cân điện tử, 01 (một) ống hút nhựa có một đầu cắt nhọn, 05 bịch nylon chưa qua sử dụng.

* Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động S J6, số Imei 1: 358465091290729, số Imei 2: 358466091290727 cùng 02 simcard có số thuê bao 0899339437 và 0384837887.

- Giao trả cho bị cáo T: 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO F11, số Imei 1: 869874044325056, số Imei 2: 869874044325049 cùng 02 simcard có số thuê bao 0772006524 và 0357067309.

(Tất cả vật chứng trên Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh đang tạm giữ theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 04/12/2023 giữa Công an huyện B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh)

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ