- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "không đăng ký kết hôn"
- Tòa quyết gì? Không công nhận mối quan hệ hôn nhân giữa bà Trần Thị Thùy Dương và ông Lê Ngọc Thống là vợ chồng.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Thông tư số 04/2015/TT-BLĐTBXH Hướng dẫn thực hiện chế độ bồ…; Thông tư liên tịch số 12/2012/TTLT-BLĐTBXH-BYT Hướng dẫn việ…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TP RẠCH GIÁ TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 11/2024/HNGĐ-ST | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Ngày: 30/01/2024 V/v: “ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Quốc Hoàng.
2. Ông Trương Hoài Khanh.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Tú – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá.
Trong ngày 30 tháng 01 năm 2024. Tại phòng xử án của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 578/2023/TLST-HNGĐ, ngày 12 tháng 12 năm 2023 về việc “ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2024/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 01 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thùy Dương, sinh năm 1990.
Địa chỉ cư trú: 568 ấp Tân Phước, xã Giục Tượng, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
2. Bị đơn: Ông Lê Ngọc Thống, sinh năm 1989.
Địa chỉ cư trú: 33/10 Lương Văn Ca, phường An Bình, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
(Các đương sự có đơn đề nghị vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ kiện nguyên đơn bà Trần Thị Thùy Dương trình bày:
Trước đây bà Dương và ông Thống tự nguyện tìm hiểu chung sống với nhau như vợ chồng, có tổ chức lễ cưới theo phong tục vào năm 2007, không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Lý do xin ly hôn: Bà Dương trình bày trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, bất đồng quan điểm nguyên nhân là do tính tình đôi bên không hợp nhau, không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng không quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau để xây dựng gia đình tiến bộ và hạnh phúc. Vợ chồng cũng đã ly thân từ này 2014 đến nay. Nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Dương yêu cầu được ly hôn với ông Thống.
Về con chung: Bà Dương xác nhận vợ chồng chung sống có 01 người con chung tên Lê Ngọc Như, sinh năm: 2009. Bà Dương yêu cầu trực tiếp nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng.
Về tài sản, nợ chung: Bà Dương xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tại phiên tòa bà Dương có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu theo đơn khởi kiện.
* Trong quá trình giải quyết vụ kiện và tại phiên tòa bị đơn ông Lê Ngọc Thống trình bày:
Trước đây ông và bà Dương tự nguyện tìm hiểu chung sống với nhau như vợ chồng, có tổ chức lễ cưới theo phong tục vào năm 2007, không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Ông thống nhất ly hôn với bà Dương.
Về con chung: Ông thống nhất giao con cho bà Dương nuôi, ông không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản, nợ chung: Ông xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tại phiên tòa ông Thống có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Xét quan hệ pháp luật tranh chấp giữa bà Dương và ông Thống theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá.
Về hôn nhân: Bà Dương và ông Thống tự nguyện chung sống như vợ chồng và có tổ chức lễ cưới theo phong tục vào năm 2007 nhưng không có đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên không tuân thủ các quy định về đăng ký kết hôn theo Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Mọi nghi thức kết hôn không theo quy định của Luật này đều không có giá trị pháp lý. Nay bà Dương và ông Thống thống nhất đề nghị Tòa án giải quyết vấn đề hôn nhân, căn cứ Điều 14 Luật hôn nhân và gia đinh năm 2014 Hội đồng xét xử không công nhận bà Dương và ông Thống là vợ chồng.
Về con chung: Bà Dương và ông Thống thống nhất giao người con chung tên Lê Ngọc Như, sinh năm: 2009 cho bà Dương nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử thống nhất ghi nhận. Đối với vấn đề cấp dưỡng nuôi con, nguyên đơn và bị đơn không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét.
Về tài sản, nợ chung: Bà Dương và ông Thống xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm ly hôn: Căn cứ khoản 5, 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 bà Trần Thị Thùy Dương phải chịu án phí theo quy định của pháp luật là 300.000 đồng, khấu trừ số tiền tạm ứng án phí bà Dương đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002800 ngày 23/10/2023 tại chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Rạch Giá nên được khấu trừ xong.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 14, Điều 15, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình 2014;
Áp dụng khoản 5 và 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.
Tuyên xử:
- Không công nhận mối quan hệ hôn nhân giữa bà Trần Thị Thùy Dương và ông Lê Ngọc Thống là vợ chồng.
- Về con chung: Giao người con chung tên tên Lê Ngọc Như, sinh năm: 2009 cho bà Trần Thị Thùy Dương trực tiếp nuôi dưỡng.
Ông Lê Ngọc Thống được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản.
3. Về tài sản chung, nợ chung: bà Dương và ông Thống xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm ly hôn: bà Trần Thị Thùy Dương phải chịu án phí theo quy định của pháp luật là 300.000 đồng, khấu trừ số tiền tạm ứng án phí bà Dương đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002800 ngày 23/10/2023 tại chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Rạch Giá nên được khấu trừ xong.
6. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận bản án hoặc Tòa án tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND Tp. Rạch Giá; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. NHỮNG VẤN ĐỀ QUAN TRỌNG CẦN PHẢI LÀM RÕ bao lâu? công việc nào khác nữa không? tiếp với người nào (về tiền lương và công việc phải làm). Ai là người chi trả tiền lương cho ông Bền, chi trả bằng hình thức nào? đến ngày tháng năm nào thì xảy ra tai nạn (nếu các bên không nhớ thì quá trình giải quyết vụ án các bên đều xác nhận ông Bền vào làm ngày 18/7/2012 và đến khoảng 11h 30 phút thì xảy ra tai nạn có đúng không?). Như vậy, chính xác là ông Bền tham gia dựng cột điện là mấy ngày (thực tế theo ngày tháng trên thì là 05 ngày, nhưng quá trình giải quyết thì các bên đều xác nhận là ông Bền làm được 02 ngày và đến ngày thứ 3 thì xảy ra tai nạn. Như vậy, nội dung nào là chính xác)? RẤT QUAN TRỌNG VÌ ĐỂ XÁC ĐỊNH BẢN CHẤT CÔNG VIỆC VÀ XÁC ĐỊNH LOẠI HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG. trả cho ông Bền số tiền là bao nhiêu? (Nếu các bên không nhớ thì quá trình giải quyết các bên xác nhận là ông Bền dựng được 02 ngày và mỗi ngày ông Bình đã trả cho ông Bền là 150.000đ/ngày có đúng không? RẤT QUAN TRỌNG VÌ ĐỂ XÁC ĐỊNH MỨC LƯƠNG LÀM CĂN CỨ BỒI THƯỜNG. có bao nhiêu người? Làm ăn chia đều hay như thế nào? hoàn thành công việc. - Phương thức dựng cột điện như thế nào? - Ông Bình có mua bảo hiểm xã hội cho ông Bền không? - Ông Bền có tham gia bảo hiểm y tế hay bảo hiểm tai nạn gì không? TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. RẠCH GIÁ KIÊN GIANG ------ BIÊN BẢN NGHỊ ÁN 1/. Nguyên đơn: Ông Ngô Thanh Bền, sinh năm 1980. Địa chỉ: ấp Thạnh An I, xã Thạnh Trị, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang. 2/. Bị đơn: Giá, tỉnh Kiên Giang. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM gồm: -Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Ông Nguyễn Văn Chiến. -Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Cao Trọng Mãnh 2. Bà Chung Kim Sang Hội đồng xét xử thống nhất 100%: Điều 147, Điều 271 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; 142, Điều 144, Điều 145 Bộ luật lao động năm 2012; Áp dụng khoản 2 Điều 305 Bộ luật dân sự; BHXH, ngày 09/9/2015 của Bảo hiểm xã hội Việt Nam; Thông tư 04/2015/TT- BLĐTBXH, ngày 02/02/2015; Thông tư số 12/2012/TTLT-BLĐTBXH-BYT ngày 21/5/2012 27/02/2009. Tuyên xử: đối với bị đơn ông Nguyễn Thanh Bình, về việc: “Tranh chấp bồi thường về tai nạn lao động”. 175.824.116đ (Một trăm bảy mươi lăm triệu tám trăm hai mươi bốn ngàn một trăm mười sáu đồng). số tiền nêu trên, thì hàng tháng ông Bình còn phải trả thêm cho ông Bền khoản tiền lãi tính theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án. 3. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: bốn ngàn bảy trăm hai mươi ba đồng). án phí. ngày tuyên án. Các Hội thẩm nhân dân 4.500.000đ/tháng. Cách ông Bền tính được tính bằng phương thức như sau: ông Bền làm được 2,5 ngày được ông Bình trả lương mỗi ngày mỗi ngày 150.000đ x 30 ngày = 4.500.000 đồng). 4.500.000đ/tháng). 150.000 đồng/ngày, tổng cộng là 59 ngày, tính từ ngày nhập viện 23/7/2012, ra viện ngày 10/08/2012, cụ thể: Giấy nhập viện của bệnh viện Điều dưỡng thành phố Hồ Chí Minh nhập viện ngày 04/12/2012 ra viện ngày 17/12/2012; Giấy nhập viện BVĐK Kiên Giang nhập viện ngày 11/7/2013 ra viện ngày 26/7/2013; Bệnh viện chấn thương chỉnh hình thành phố Hồ Chí Minh nhập viện ngày 21/11/2012 ra viện ngày 04/12/2012). nhãn hiệu 160A của nhà sản xuất Kaiyang trị giá 29.000.000 đồng (Ông Bền xác nhận xe ông Bền chưa mua nhưng ông Bền đã đến Công ty để hỏi giá chiếc xe trên và được báo giá là 29.000.000 đồng nên ông Bền đề nghị phía ông Bình hổ trợ số tiền 29.000.000 đồng để mua chiếc xe nêu trên). 4). dựng cột điện từ bà Đạm Anh. Sau đó ông Bình tự tìm nhân công để thành lập đội thi công công trình dựng cột điện từ Vĩnh Thuận về Xẻo Rô (đội dựng cột diện giao động từ 12 đến 15 người), mọi người cùng làm và cùng ăn chia đều với nhau, sau khi trừ đi chi phí ăn uống thì mỗi cột điện dựng được mọi người trong đội được chia 140.000 đồng/1cột điện. Đến ngày 17/8/2012 được sự thống nhất, đồng ý của ông Bình thì ông Ngô Thanh Bền cùng tham gia vào đội thi công dựng cột điện. Đến ngày 23/7/2012 tại địa phận thuộc Tổ 5, ấp Phú Lâm, xã Đông Thái, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang trong lúc dựng cột điện đã xảy ra tai nạn là ông Ngô Thanh Bền bị cột điện đỗ đè trúng vào người gây chấn thương. Như vậy, quan hệ lao động giữa người sử dụng lao động là ông Nguyễn Thanh Bình và người lao động là ông Ngô Thanh Bền đã được xác lập, giữa các bên đã phát sinh thỏa thuận lao động về việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động. Công việc mà ông Bình và ông Bền thỏa thuận là ông Bền sẽ cùng mọi người trong đội tham gia thi công công trình dựng cột điện, sau khi dựng cột điện xong thì các bên chấm dứt quan hệ lao động, do công việc mà các bên giao kết là thực hiện theo một công việc nhất định, có tính chất tạm thời có thời hạn dưới 03 tháng nên giữa ông Bình và ông Bền giao kết hợp đồng lao động bằng lời nói là phù hợp với quy định của pháp luật được quy định tại các Điều 7, Điều 15, Điều 16; điểm c khoản 1 Điều 22 Bộ luật lao động năm 2013. Loại hợp đồng lao động giữa người sử dụng lao động là ông Bình với người lao động là ông Bền thỏa thuận được xác định là Hợp đồng lao động theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng. Do sau khi tai nạn lao động xảy ra phía người sử dụng lao động là ông Bình không thực hiện việc bồi thường tai nạn lao động cho ông Bền nên ông Bền có quyền khởi kiện vụ án theo quy định tại Điều 4 và Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA NGUYỄN THỊ MỸ HẠNH - Công trình dựng cột điện bắt đầu từ thời điểm nào và kết thúc vào thời điểm nào? - Thời điểm ông Bền vào tham gia dựng cột điện thì công trình đã thi công được - Ngoài việc thỏa thuận ông Bền vào tham gia dựng cột diện thì còn thỏa thuận - Khi ông Bền được vào đội thi công dựng cột điện thì ông Bền thỏa thuận trực - Chính xác ông Bền vào tham gia dựng cột điện vào ngày tháng năm nào và - Trong các ngày mà ông Bền đã tham gia dựng cột điện thì mỗi ngày ông Bình đã - Đội thi công dựng cột điện thời điểm nhiều nhất là có bao nhiêu người, ít nhất là - Từ thời điểm ông Bền bị tai nạn thì công trình hoạt động khoảng bao lâu nữa thì CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc ------ Rạch Giá, ngày 13 tháng 01 năm 2017 Vụ án: “Tranh chấp bồi thường về tai nạn lao động” giữa: - Ông Nguyễn Thanh Bình, sinh năm 1979. Địa chỉ: Số 230/1 Trần Khánh Dư, khu phố 6, phường An Hòa, thành phố Rạch Áp dụng khoản 5 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Áp dụng Điều 16, Điều 17, Điều 22, Điều 30, Điều 90, Điều 91, Điều 110; Điều Áp dụng Nghị định 39/2016/NĐ-CP ngày 15/5/2016; Quyết định số 959/QĐ- Áp dụng khoản 2 Điều 11; khoản 4 Điều 27 Pháp lệnh lệ phí án phí, Tòa án ngày 1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Ngô Thanh Bền 2. Buộc ông Bình phải bồi thường tai nạn lao động cho ông Bền số tiền là Kể từ ngày ông Bền có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Bình không bồi thường - Ông Bình phải nộp án phí số tiền là 5.274.723đ (Năm triệu hai trăm bảy mươi - Nguyên đơn ông Bền thuộc trường hợp được miễn toàn bộ tiền tạm ứng án phí, 4. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ Thẩm phán–Chủ toạ phiên toà tai nạn lao động là 135.000.000 đồng (Bằng 30 mươi tháng lương thực nhận - Tiền trợ cấp tai nạn lao động là 54.000.000 đồng (12 tháng lương thực nhận - Tiền mất thu nhập của người nuôi bệnh là 8.850.000 đồng (tính mỗi ngày - Đề nghị cấp phương tiện trợ giúp sinh hoạt dụng cụ chỉnh hình, xe lăn điện - Tiền trợ cấp hàng tháng là 1.150.000 đồng (TT 04/2015, ngày 02/02/2015 Điều Về quyền khởi kiện: Ông Nguyễn Thanh Bình là người trực tiếp nhận công trình |