vanban.org

Bản án 11/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị L được ly hôn anh Hà Văn N.

Về nuôi con chung: Giao cháu Hà Minh N1, sinh ngày 20-3-2017 cho chị Hoàng Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Anh Hà Văn N không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Hoàng Thị L yêu cầu ly hôn anh N"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị L được ly hôn anh Hà Văn N.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN , TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:11/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 18-02-2025
“V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN - TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Phú Duy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Hằng

2. Ông Đặng Minh Nhàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng – Thư ký Toà án nhân dân huyện , tỉnh Yên Bái.

Ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện , tỉnh Yên Bái, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 210/2024/TLST - HNGĐ ngày 01-11-2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06-01-2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2025/QĐST-HNGĐ ngày 17-01-2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị L, sinh năm 1984 – vắng mặt, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Hà Văn N, sinh năm 1987 – vắng mặt lần thứ hai không có lý do

Cùng địa chỉ: Thôn Q, xã H, huyện , tỉnh Yên Bái.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 29-10-2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Hoàng Thị L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị đăng ký kết hôn với anh Hà Văn N tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện , tỉnh Yên Bái vào ngày 04-4-2015. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống tại Thôn Q, xã H, huyện , tỉnh Yên Bái, tình cảm vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Hà Văn N thường xuyên uống rượu say xỉn, không chăm lo cho cuộc sống gia đình. Mặc đù đã được gia đình hòa giải nhưng không có kết quả. Anh chị đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay, không còn quan quan đến nhau nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh Hà Văn N không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Hà Văn N.

Về con chung: Chị và anh Hà Văn N có 01 con chung là Hà Minh N1, sinh ngày 20-3-2017. Ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyên cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác, không yêu cầu anh Hà Văn N phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về chia tài sản và nợ chung: Chị xác định vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện đã thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật và tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng bị đơn anh Hà Văn N không có mặt tại Tòa án và không có bản tự khai. Ngoài ra nguyên đơn chị Hoàng Thị L đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải. Do đó, trong hồ sơ vụ án không có lời khai của anh Hà Văn N và Tòa án cũng không tiến hành hòa giải được.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn anh Hà Văn N có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Thôn Q, xã H, huyện , tỉnh Yên Bái. Căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, yêu cầu ly hôn của chị Hoàng Thị L thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện , tỉnh Yên Bái.

Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Hoàng Thị L có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, bị đơn anh Hà Văn N được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị L và anh Hà Văn N có đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện tại Uỷ ban nhân dân xã H, huyện , tỉnh Yên Bái vào ngày 04-4-2015 là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng nhau tại Thôn Q, xã H, huyện , tỉnh Yên Bái. Theo chị Hoàng Thị L, anh chị chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Hà Văn N thường xuyên uống rượu say, không chăm lo cho cuộc sống gia đình. Mặc dù gia đình đã hòa giải nhưng không có kết quả và anh chị đã sống ly thân với nhau từ năm 2022 đến nay, không còn quan tâm đến nhau nữa. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện , tỉnh Yên Bái đã thông báo nhiều lần nhưng Hà Văn N không đến Tòa an, như vậy anh Hà Văn N đã tự từ bỏ quyền lợi và cơ hội hàn gắn cuộc sống vợ chồng của bản thân.

Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân giữa chị Hoàng Thị L và anh Hà Văn N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung thực tế không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, có căn cứ cho chị Hoàng Thị L được ly hôn anh Hà Văn N theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về nuôi con chung: Chị Hoàng Thị L và anh Hà Văn N có 01 con chung là cháu Hà Minh N1, sinh ngày 20-3-2017. Ly hôn, chị Hoàng Thị L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyên. Anh Hà Văn N không đến Tòa án, không có lời khai thể hiện nguyện vọng được nuôi con. Hơn nữa, cháu Hà Minh N1 có nguyện vọng được ở với mẹ. Vì vậy để đảm sự ổn định cuộc sống, sinh hoạt, học tập của cháu, cần tiếp tục giao cháu Hà Minh N1 cho chị Hoàng Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Hoàng Thị L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, anh Hà Văn N không có lời khai nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về chia tài sản và nợ chung: Chị Hoàng Thị L đề nghị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Hoàng Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị L được ly hôn anh Hà Văn N.

2. Về nuôi con chung: Giao cháu Hà Minh N1, sinh ngày 20-3-2017 cho chị Hoàng Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Anh Hà Văn N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Hoàng Thị L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) chị Hoàng Thị L đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2024/0000562 ngày 01-11-2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện , tỉnh Yên Bái. Chị Hoàng Thị L đã nộp đủ.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ