- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hà Văn Nghĩa - Ngân Thị Lịch: HNGĐ"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho anh Hà Văn Ngh được ly hôn chị Ngân Thị L
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN HÓA TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11 /2024/HNGĐ-ST Ngày: 19/09/2024 V/v:“Xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN HÓA, TỈNH THANH HÓA
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Hùng
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông: Vi Ngọc Trung
2. Bà: Lương Thị Diện
Thư ký toà án ghi biên bản: Ông Nguyễn Văn Thành - Thư ký Toà án nhân dân huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Quan Hóa tham gia phiên tòa: Ông Hà Xuân Trường - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 09 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 60/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 06 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 09 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Hà Văn Ngh – Sinh năm: 1991. Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt ngày 17/09/2024)
HKTT: Bản Bai, xã Thành Sơn, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa
- Bị đơn: Chị Ngân Thị L – Sinh năm: 1993.
HKTT: Bản Pạo, xã Trung Sơn, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
Hiện đang chấp hành án tại Trại giam số 06, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt. ( Xin xét xử vắng mặt trong biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 12/08/2024).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án Nguyên đơn anh Hà Văn Ngh trình bày:
Anh và chị L tự do tìm hiểu, không bị ai ép buộc, tự nguyện đến với nhau, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán truyền thống, có đăng ký kết hôn tại UBND Trung Sơn, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 17/09/2012. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, hòa thuận tại Bản Bai, xã Thành Sơn, huyện Quan Hoá, tỉnh Thanh Hoá được một thời gian. Đến khoảng năm 2017 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hợp, quan điểm sống khác nhau, dẫn đến không thông cảm được cho nhau trong cuộc sống, mặc dù được gia đình nội ngoại dàn xếp hòa giải nhưng tình hình vẫn không được cải thiện. Vợ chồng hiện đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Nay anh thấy cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên nguyện vọng muốn được ly hôn chị Lịch.
* Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung, cháu đầu tên là Hà Quang Huy
- sinh ngày: 08/11/2011 và cháu Hà Thị Hồng Hạnh - sinh ngày 04/12/2009, hiện các cháu đang sống cùng anh Nghĩa. Khi ly hôn, anh Ngh có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu Huy và cháu Hạnh cho đến tuổi thành niên.. Anh Ngh không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con chung.
* Về tài sản và công nợ: Anh Ngh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành xác minh và được biết chị Ngân Thị L hiện đang chấp hành án tại Trại giam số 6 - Bộ Công an. Tại biên bản lấy lời khai của đương sự do Toà án nhân dân huyện Thanh Chương được uỷ thác thực hiện, chị L trình bày:
* Về hôn nhân: Chị và anh Ngh kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu từ trước, có thực hiện đăng ký kết hôn tại UBND xã Trung Sơn, huyện Quan Hoá, tỉnh Thanh Hoá ngày 17/09/2012. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, tuy nhiên từ năm 2020 đến nay không còn liên lạc với nhau (thời điểm chị L bị bắt và bị Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xử phạt tù chung thân về tội mua bán trái phép chất ma tuý). Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị L nhất trí với đề nghị ly hôn của anh Ngh.
* Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Hà Quang Huy - sinh ngày: 08/11/2011 và cháu Hà Thị Hồng Hạnh - sinh ngày 04/12/2009 hiện các cháu đang sống cùng anh Ngh. Chị L đồng ý để cho anh Nghĩa là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu. Chị đề nghị tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
* Về tài sản và công nợ chung: Chị L không yêu cầu Toà án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, anh Hà Văn Ngh đề nghị không tiến hành hoà giải nên Toà án không tiến hành hoà giải. Đây là trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS). Anh Ngh và chị Lịch đều đề nghị xét xử vắng nên căn cứ điều 227, điều 228, điều 238 của BLTTDS Toà án tiến hành xét xử vắng mặt anh Ngh và chị L.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Tòa án đã tuân thủ đúng quy định về trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho anh Ngh được ly hôn với chị L. Về con chung: Giao cháu Hà Quang Huy - sinh ngày: 08/11/2011 và cháu Hà Thị Hồng Hạnh - sinh ngày 04/12/2009 cho anh Nghĩa được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến tuổi thành niên. Chị L không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản và công nợ chung: Anh Ngh và chị L không yêu giải quyết cầu nên miễn xét. Về án phí: Anh Ngh phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về hôn nhân: Anh Hà Văn Ngh và chị Ngân Thị L đến với nhau trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã Trung Sơn, huyện Quan Hoá, tỉnh Thanh Hoá ngày 17/09/2012 và không vi phạm các Điều 9, 10 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, là hôn nhân hợp pháp và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình chung sống nảy sinh nhiều bất đồng, không hoà hợp được. Nguyên nhân là do tính tình không hợp, quan điểm sống khác nhau, dẫn đến không thông cảm được cho nhau trong cuộc sống, mặc dù được gia đình nội ngoại dàn xếp hòa giải nhưng tình hình vẫn không được cải thiện. Vì những lẽ đó, chị L đã bỏ về nhà mẻ đẻ ở bản Pạo, xã Trung Sơn sinh sống và sau đó bị bắt về tội Mua bán trái phép chất ma tuý, hiện đang chấp hành án chung thân tại Trại giam số 6- Bộ Công an. Việc này đã được chính quyền địa phương, trưởng bản Pạo và bà Hà Thị Tình - mẹ đẻ của chị L xác nhận, phù hợp với nội dung xác minh tình trạng hôn nhân của Toà án. Cả anh Nghĩa và chị L đều có nguyện vọng muốn ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân gia đình xử cho anh Hà Văn Ngh được ly hôn với chị Ngân Thị L để giải phóng cho nhau là cần thiết và phù hợp pháp luật.
. Về con chung: Anh Ngh và chị L có 02 con chung là cháu Hà Quang Huy - sinh ngày: 08/11/2011 và cháu Hà Thị Hồng Hạnh - sinh ngày 04/12/2009, hiện anh Ngh đang trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc các cháu. Anh Ngh có nguyện vọng tiếp tục nuôi dưỡng cả hai cháu cho đến tuổi thành niên, cháu Huy và cháu Hạnh có nguyện vọng ở cùng với bố. Xét hoàn cảnh thực tế chị L đang phải chấp hành án tù chung thân trong trại giam nên việc nuôi dưỡng chăm sóc các con là không thể. Để đảm bảo điều kiện phát triển ổn định bình thường cho con trẻ, tránh sự xáo trộn trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu của anh Ngh, giao cháu Huy và cháu Hạnh cho anh Ngh trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên là phù hợp với điều kiện hoàn cảnh thực tế và các quy định của pháp luật. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung, anh Ngh không yêu cầu nên miễn xét.
. Về tài sản, công nợ chung: Anh Ngh và chị L không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.
. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Anh Hà Văn Ngh là người dân tộc thiểu số (dân tộc Thái), sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 56, Điều 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28, Khoản 4 Điều 207, Khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 238 BLTTDS; Điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Về hôn nhân: Xử cho anh Hà Văn Ngh được ly hôn chị Ngân Thị L
Về con chung: Giao cháu Hà Quang Huy - sinh ngày: 08/11/2011 và cháu Hà Thị Hồng Hạnh - sinh ngày 04/12/2009 cho anh Nghĩa trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi thành niên. Chị L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Chị Ngân Thị L có quyền, nghĩa vụ đi lại trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở
Án phí: Miễn tiền án phí ly hôn sơ thẩm cho anh Hà Văn Ngh.
Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt anh Ngh và chị L. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND huyện Quan Hóa; - CC.THADS huyện Quan Hóa; - Các đương sự; - UBND xã Thành Sơn, H.Quan Hóa, T. Thanh Hóa; - UBND xã Trung Sơn, H.Quan Hóa, T. Thanh Hóa; - Lưu HS. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thành viên Hội đồng xét xử | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Hùng Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Phạm Văn Hùng |