- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "H Ne Niê + Võ Đình Trung"
- Tòa quyết gì? Áp dụng vào các khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình.
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯM’GAR | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐĂKLĂK Bản án số: 11/2024/HNGĐ-ST Ngày: 05 - 02 - 2024 V/v: “Kiện ly hôn, con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯM’GAR
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Thắng
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hà Thị Hương và bà H Nel Êban
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Hoàng – Thư ký tòa án nhân dân huyện Cư Mgar
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư M’gar tham gia phiên tòa: Ông Dương Hoàng Long – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 02 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện CưM’gar, tỉnh Đăk Lăk xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 366/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2023 về việc “Kiện ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 08/01/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị H N Niê; sinh năm 1981 (có mặt)
Địa chỉ: Buôn KC, xã CD, huyện CM, tỉnh Đăk Lăk
- Bị đơn: Anh Võ Đình T; sinh năm 1985 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Buôn KC, xã CD, huyện CM, tỉnh Đăk Lăk
Hiện đang chấp hành án tại trại giam PH – Tổng cục VIII – Bộ Công An
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai nguyên đơn chị H N Niê trình bày:
Tôi và anh Võ Đình T có đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 28/08/2006 tại Ủy ban nhân dân xã Cuôr Đăng, huyện Cư Mgar, tỉnh Đăk Lăk trên cơ sở tự nguyện. Trong quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn do tính tình chúng tôi có nhiều khác biệt nên quan điểm sống gia đình không có sự đồng thuận, từ đó chúng tôi không có tiếng nói chung, vợ chồng bất đồng quan điểm, không tìm được điểm chung để sống với nhau, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được. Vì vây, tôi làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Cư Mgar giải quyết cho được ly hôn với anh Võ Đình T.
Về con chung: Chúng tôi có 03 con chung là cháu Võ Thị D Niê, sinh ngày 05/06/2007; Võ Thị L Niê, sinh ngày 05/06/2007; Võ Đình Th Niê, sinh ngày 07/03/2016. Hiện nay tôi đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu Võ Thị D Niê, Võ Thị L Niê, Võ Đình Th Niê nên tôi có nguyện vọng tiếp tục nuôi các cháu cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi và không yêu cầu anh Võ Đình Tphải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong biên bản lấy lời khai nguyên đơn anh Võ Đình T trình bày:
Tôi và bà H N Niê chung sống với nhau từ năm 2004 đến năm 2006 thì chúng tôi đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã Cuôr Đăng, huyện Cư Mgar, tỉnh Đăk Lăk. Do tôi đi chấp hành án nên bà H N Niê làm đơn ly hôn thì tôi cũng đồng ý ly hôn.
Về con chung: Chúng tôi có 03 con chung là cháu Võ Thị D Niê, sinh ngày 05/06/2007; Võ Thị L Niê, sinh ngày 05/06/2007; Võ Đình Th Niê, sinh ngày 07/03/2016. Tôi đồng ý giao 03 người con cho bà H N Niê chăm sóc và nuôi dưỡng.
Về tài sản chung: Tôi không có ý kiến gì
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án:
- Đối với Thẩm Phán: đã thực đầy đủ các quy đinh của Bộ luật tố tụng dân sự và thực hiện đúng thời hạn xét xử.
- Đối với Hội đồng xét xử và thư ký tại phiên tòa: đã thực hiện đầy đủ, đúng quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự.
- Đối với đương sự:
Nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình đề nghị: Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H N Niê; Chị H N Niê được ly hôn với anh Võ Đình T. Giao cháu Võ Thị D Niê, sinh ngày 05/06/2007; Võ Thị L Niê, sinh ngày 05/06/2007; Võ Đình Th Niê, sinh ngày 07/03/2016 cho chị Chị H N Niê trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Chị H N Niê không yêu cầu anh Võ Đình T phải cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị H N Niê không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật:
Chị H Ně Niê yêu cầu được ly hôn và con chung với anh Võ Đình T nên quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là tranh chấp ly hôn và nuôi con chung. Anh Võ Đình T có đăng ký nhân khẩu tại xã Cuôr Đăng, huyện Cư Mgar. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyên Cư Mgar nên được xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về thủ tục tố tụng:
Quá trình giải quyết vụ án anh Võ Đình Trung có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị H N Niê và anh Võ Đình T có đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 28/08/2006 tại Ủy ban nhân dân xã Cuôr Đăng, huyện Cư Mgar, tỉnh Đăk Lăk, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống giữa chị H N Niê và anh Võ Đình T thường xuyên nảy sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, đời sống chung không hạnh phúc và hiện nay anh T đang chấp hành án và đồng ý lý hôn. Chị H N Niê yêu cầu được ly hôn với anh Võ Đình T, xét yêu cầu của chị H N Niê là phù hợp vì hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân giữa chị H N Niê và anh Võ Đình T đã trầm trọng, việc chị H N Niê yêu cầu được ly hôn với anh Võ Đình T là chính đáng cần được chấp nhận.
Về con chung: Chị H N Niê và anh Võ Đình T có 03 con chung là cháu Võ Thị D Niê, sinh ngày 05/06/2007; Võ Thị L Niê, sinh ngày 05/06/2007; Võ Đình Th Niê, sinh ngày 07/03/2016. Hiện nay cháu Võ Thị D Niê, Võ Thị L Niê, Võ Đình Th Niê đang được chị H N Niê trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng ổn định và chị H N Niê cũng có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc cháu Võ Thị D Niê, Võ Thị L Niê, Võ Đình Th Niê cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. cháu Võ Thị D Niê, Võ Thị L Niê, Võ Đình Th Niê cũng có nguyện vọng được ở với chị H Ně Niê nên Hội đồng xét xử xét thấy xét nguyện vọng của chị H N Niê là chính đáng phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh hiện nay. Vì vậy, giao cháu Võ Thị D Niê, Võ Thị L Niê, Võ Đình Th Niê cho chị H N Niê tiếp tục để chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H N Niê không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị H N Niê không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị H N Niê phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng vào các khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH10 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H N Niê
Về quan hệ hôn nhân: Chị H N Niê được ly hôn với anh Võ Đình T
Về con chung: Giao cháu Võ Thị D Niê, sinh ngày 05/06/2007; Võ Thị L Niê, sinh ngày 05/06/2007; Võ Đình Th Niê, sinh ngày 07/03/2016 cho chị H N Niê trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H N Niê không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Anh Võ Đình T được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai có quyền ngăn cản.
Vì lợi ích của con chưa thành niên, theo yêu cầu của một hoặc hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị H N Niê không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí hôn nhân và gia đình:
Chị H N Niê phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí mà chị H N Niê đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0014636 ngày 13/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cư M’gar.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án
Bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) ĐẶNG NGỌC THẮNG |