- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn: Chị Lò Thị Th; bị đơn: Anh Trần Quốc Đ."
- Tòa quyết gì? Xử cho chị Lò Thị Th ly hôn anh Trần Quốc Đ.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH LỤC TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2024/HNGĐ-ST Ngày: 16/9/2024 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH LỤC, TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Minh Khánh và ông Trần Ngọc Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Như Nguyệt - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Tình - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 17/2024/TLST-HNGĐ ngày 24/6/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 07/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2024/QĐST-HNGĐ ngày 29/8/2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lò Thị Th, sinh năm 1986; nơi thường trú và cư trú: Bản N, xã N, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên; có mặt.
2. Bị đơn: Anh Trần Quốc Đ, sinh năm 1981; nơi thường trú và cư trú: Thôn C, xã Tr, huyện B, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
3. Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1954; địa chỉ: Thôn C, xã Tr, huyện B, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lò Thị Th trình bày:
- Về hôn nhân: Chị và anh Đ tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tr, huyện B, tỉnh Hà Nam vào ngày 28/01/2013. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại bản N được khoảng 01 năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Đ chơi bời nên kinh tế gia đình khó khăn. Chị Th khuyên bảo anh Đ nhiều lần nhưng anh Đ không thay đổi. Đến tháng 10/2020 thì chị Th và anh Đ sống ly thân, không còn quan hệ tình cảm. Nay chị Th xác định tình cảm vợ chồng không còn đề nghị ly hôn anh Đ.
- Về con: Chị và anh Đ có 02 con chung là cháu Trần Đức M, sinh ngày 20/6/2013 và cháu Trần Thị Bảo Ch, sinh ngày 03/8/2019. Kể từ khi ly thân năm 2020 đến nay thì chị nuôi dưỡng cháu Ch, còn anh Đ nuôi dưỡng cháu M. Hiện các cháu đều khỏe mạnh, phát triển bình thường. Ly hôn, chị đề nghị tiếp tục nuôi cháu Ch còn giao anh Đ nuôi cháu M; anh chị không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Hiện chị đang làm thuê tại quán cắt tóc, gội đầu thu nhập bình quân mỗi tháng khoảng 10.000.000 đồng và có chỗ ở ổn định với bố mẹ đẻ chị. Chị Th xác định, ngày 28/01/2013 chị và anh Đ đăng ký kết hôn nhưng đến ngày 20/6/2013 đã sinh cháu Trần Đức M và chị xác định cháu M là con chung của vợ chồng.
Ngoài ra chị Th xác định chị có 02 con riêng là cháu Lò Thị H, sinh ngày 06/5/2002 và cháu Lò Việt Ch, sinh ngày 29/11/2004. Hiện tại các cháu đã trưởng thành, tự lập nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị và anh Đ không có con nuôi và hiện chị không có thai sản gì.
- Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức, trợ cấp khó khăn sau ly hôn, đất nông nghiệp trồng cây hàng năm: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn - anh Trần Quốc Đ không chấp hành giấy triệu tập của Tòa án, không tham gia tố tụng để giải quyết vụ án nên không có quan điểm trình bày.
Tại Biên bản lấy lời khai của cháu Trần Đức M thì cháu có nguyện vọng muốn được ở với bố.
Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Không vi phạm; Đối với người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chị Lò Thị Th đã chấp hành và thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn anh Trần Quốc Đ chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 28, 35, 39, 68, 144, 147, 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Luật phí và lệ phí số 97 ngày 25/11/2015 của Quốc hội; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Lò Thị Th. Xử cho chị Lò Thị Th ly hôn anh Trần Quốc Đ.
2. Về con chung: Giao cháu Trần Đức M, sinh ngày 20/6/2013 cho anh Đ nuôi dưỡng; giao cháu Trần Thị Bảo Ch, sinh ngày 03/8/2019 cho chị Th nuôi dưỡng. Chị Th và anh Đ không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho nhau.
3. Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp, trợ cấp khó khăn, đất nông nghiệp trồng cây hàng năm: Chị Th không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh Đ không có quan điểm.
4. Án phí ly hôn sơ thẩm: Đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam nhận định:
Về tố tụng: Căn cứ nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lò Thị Th xin ly hôn anh Trần Quốc Đ, đây là quan hệ pháp luật về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình và khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn anh Đ có nơi thường trú và cư trú tại thôn C, xã Tr, huyện B, tỉnh Hà Nam nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Do anh Đ đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Vì vậy Tòa án nhân dân huyện Bình Lục tiến hành xét xử vắng mặt anh Đ.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lò Thị Th và anh Trần Quốc Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Tr, huyện B, tỉnh Hà Nam cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 28/01/2013, nên được xác định là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống được khoảng 01 năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chị Th cho rằng do anh Đ chơi bời nên kinh tế gia đình khó khăn. Chị Th khuyên bảo anh Đ nhiều lần nhưng anh Đ không thay đổi. Từ tháng 10/2020 đến nay thì chị Th và anh Đ sống ly thân nhau.
Tại các buổi làm việc với Tòa án, bà Nguyễn Thị Q là mẹ đẻ anh Đ đều trình bày: Sau khi nhận Thông báo thụ lý vụ án của Tòa án thì bà đã giao tận tay cho anh Đ để đến Tòa án, nhưng anh Đ nói kệ ai có đơn khởi kiện ly hôn thì tự đi giải quyết với Tòa, anh Đ xác định không về Tòa án giải quyết. Sau đó bà còn nhiều lần nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án để chuyển cho anh Đ và bà đều gọi điện thoại thông báo nội dung các văn bản của Tòa án cho anh Đ.
Hội đồng xét xử xét thấy: Anh Đ đã biết và được thông báo, được triệu tập nhưng không đến Tòa án để trình bày quan điểm về việc chị Th kiện ly hôn. Việc làm này của anh Đ thể hiện sự bỏ mặc và gây khó khăn cho chị Th trong việc giải quyết ly hôn. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị Th luôn có quan điểm mong muốn và kiên quyết được ly hôn anh Đ. Xét thực tế anh chị đã chấm dứt tình cảm vợ chồng từ tháng 10/2020 đến nay nên khả năng chị Th, anh Đ đoàn tụ về chung sống là không còn, vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của chị Th, xử cho chị Th ly hôn anh Đ là phù hợp với thực tế, đúng quy định tại khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về con:
Chị và anh Đ có 02 con chung là cháu Trần Đức M, sinh ngày 20/6/2013 và cháu Trần Thị Bảo Ch, sinh ngày 03/8/2019. Hiện tại chị đang nuôi dưỡng cháu Ch, còn anh Đ nuôi dưỡng cháu M. Các cháu đều khỏe mạnh, phát triển bình thường. Ly hôn, chị đề nghị tiếp tục nuôi dưỡng cháu Ch còn giao anh Đ nuôi dưỡng cháu M; anh chị không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
Hội đồng xét xử thấy rằng: Từ khi chị Th và anh Đ sống ly thân đến nay thì cháu M vẫn ở với anh Đ, cháu Ch ở với chị Th; các cháu đều khỏe mạnh, phát triển bình thường và được học tập đầy đủ; bản thân cháu M cũng có nguyện vọng ở với anh Đ, còn cháu Ch là bé gái và còn nhỏ nên cần sự chăm sóc chu đáo, tỉ mỉ của người mẹ. Vì vậy để bảo đảm sự ổn định, không bị xáo trộn môi trường sống, giáo dục, tâm lý và tình cảm của các cháu nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của chị Th; giao cháu M cho anh Đ nuôi dưỡng, giao cháu Ch cho chị Th nuôi dưỡng; anh Đ, chị Th không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
Về con riêng: Chị Th xác định chị có 02 con riêng là cháu Lò Thị H, sinh ngày 06/5/2002 và cháu Lò Việt Ch, sinh ngày 29/11/2004. Hiện tại các cháu đã trưởng thành và tự lập. Ly hôn chị không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp, đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, trợ cấp khó khăn sau ly hôn: Do chị Th không yêu cầu Tòa án giải quyết; anh Đ không tham gia tố tụng tại Tòa án để trình bày quan điểm do vậy Hội đồng xét xử không giải quyết những vấn đề này. Nếu sau này chị Th, anh Đ xảy ra tranh chấp về tài sản thì có quyền khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp.
Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Th phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và danh mục án phí, lệ phí Tòa án.
1. Xử cho chị Lò Thị Th ly hôn anh Trần Quốc Đ.
2. Về con chung: Giao cháu Trần Đức M, sinh ngày 20/6/2013 cho anh Trần Quốc Đ nuôi dưỡng; giao cháu Trần Thị Bảo Ch, sinh ngày 03/8/2019 cho chị Lò Thị Th nuôi dưỡng. Chị Th, anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
Chị Th và anh Đ cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh chị trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Trần Đức M, và cháu Trần Thị Bảo Ch.
3. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Lò Thị Th phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Chuyển số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) mà chị Th đã nộp tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện B theo biên lai số 0000620 ngày 24/6/2024 thành án phí ly hôn sơ thẩm mà chị phải nộp (chị Th đã thi hành xong tiền án phí ly hôn sơ thẩm).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Chị Lò Thị Th có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; anh Trần Quốc Đ có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND huyện Bình Lục; - Chi cục THADS huyện B; - UBND xã Tr; B; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Thị Thu Hằng |