- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HuỳnhNh-PhanVanLinhE"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà HN đối với ông Phan Văn LINHE. Bà HN được ly hôn với ông Phan Văn LINHE.
- Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BĐ, TỈNH BT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11 /2024/HNGĐ-ST Ngày: 19/03/2024. Về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BĐ, TỈNH BT
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Loan.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Hiếu.
2. Bà Bùi Thị Hồng Lam.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Tuyết là Thư ký Tòa án nhân dân huyện BĐ, tỉnh BT.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện BĐ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lanh - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 3 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện BĐ, xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án dân sự thụ lý số: 400/2023/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2024/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà HN, sinh năm 1987 (Vắng mặt).
Địa chỉ: ấp Bình Lộc, xã DHL, huyện BĐ, tỉnh BT.
- Bị đơn: Ông Phan Văn LINHE, sinh năm 1985 (Vắng mặt).
Địa chỉ: ấp Mắc Miễu, xã DHL, huyện BĐ, tỉnh BT.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn xin ly hôn đề ngày 03/10/2023 và những lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà HN trình bày như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Phan Văn LINHE cưới nhau trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã DHL, huyện BĐ, tỉnh BT vào ngày 17/04/2017. Quá trình chung sống thời gian đầu có hạnh phúc, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống nhiều lần cãi vã, không còn tiếng nói chung, vợ chồng đã ly thân nay hơn bốn năm. Nay, bà thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, không thể hàn gắn được với ông LINHE nên bà HN yêu cầu được ly hôn với ông Phan Văn LINHE.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Phan NHH, sinh ngày 11/6/2017, hiện đang sống chung với bà. Khi ly hôn, bà HN yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu ông Phan Văn LINHE cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Không có.
- Về nợ chung: Không có.
*Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện BĐ đã tống đạt hợp lệ cho ông Phan Văn LINHE các văn bản tố tụng nhưng ông LINHE vắng mặt không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như xét xử nên Tòa án không thu thập được lời khai của ông Phan Văn LINHE.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện BĐ có ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử:
Thẩm phán được phân công thụ lý xác định đây là vụ án “Ly hôn” là đúng quan hệ tranh chấp. Quan hệ pháp luật này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện BĐ theo qui định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Sau khi thụ lý vụ án, Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về: xác định đúng tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng, xác minh tình trạng mâu thuẫn giữa vợ chồng, tổ chức phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải giữa các đương sự, đảm bảo thời hạn chuẩn bị xét xử, gửi thông báo thụ lý. Tuy nhiên chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu trễ hạn theo qui định tại Điều 220 BLTTDS năm 2015.
- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà:
Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và việc xét xử sơ thẩm vụ án.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng
Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại các điều 70 và 71 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn đã không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ cuả mình được quy định tại các điều 70 và 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về việc giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình:
Nhận thấy: Chị Như và anh LINHE chung sống có đăng ký kết hôn nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Chị HN yêu cầu ly hôn vì vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hợp nhau, cuộc sống không có hạnh phúc. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên chị xin được ly hôn với anh LINHE. Anh LINHE không đến trong những lần Tòa án triệu tập nên không biết ý kiến của anh như thế nào. Nhưng nhận thấy, mâu thuẫn giữa anh chị đã đến mức trầm trọng, giữa hai người không thể hàn gắn tình cảm nên việc tiếp tục chung sống cũng không đem lại hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần xem xét chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Như đối với anh LINHE.
Về con chung: có 01 con chung là Phan NHH, sinh ngày: 11/6/2017. Xét thấy cháu Huỳnh còn nhỏ và đang được mẹ chăm sóc. Vì vậy cần xem xét để chị Như tiếp tục nuôi cháu Huỳnh là phù hợp. Ghi nhận chị Như không yêu cầu anh LINHE cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung và nợ chung: chị Như khai không có nên không xét đến.
Từ những phân tích và đánh giá nêu trên, VKSND huyện BĐ đề nghị HĐXX:
- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị HN đối với anh Phan Văn LINHE.
- Con chung: chị Như được tiếp tục nuôi cháu Phan NHH, sinh ngày: 11/6/2017, anh LINHE không cấp dưỡng nuôi con.
- Tài sản chung, nợ chung: không có nên không xét đến.
- Yêu cầu kiến nghị khắc phục vi phạm: Tòa án khắc phục việc gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát trễ hạn trong thời gian tới.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện BĐ, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà HN khởi kiện bị đơn ông Phan Văn LINHE. Ông Phan Văn LINHE có hộ khẩu thường trú và đang sinh sống tại ấp Mắc Miễu, xã DHL, huyện BĐ, tỉnh BT nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện BĐ, tỉnh BT theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Phan Văn LINHE đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để xét xử, nhưng ông vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt ông là phù hợp quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. Bà HN có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt đề ngày 07/03/2024. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng là phù hợp quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
*Về nội dung:
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà HN và ông Phan Văn LINHE cưới nhau vào năm 2017 trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã DHL, huyện BĐ, tỉnh BT theo quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa bà HN và ông Phan Văn LINHE được công nhận là hợp pháp.
Sau khi kết hôn cuộc sống bà HN và ông Phan Văn LINHE sống không hạnh phúc do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, ông Phan Văn LINHE không chăm lo đời sống gia đình. Hơn nữa, Tòa án đã tiến hành mời ông Phan Văn LINHE để hòa giải nhằm cho các bên có cơ hội hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông LINHE không đến dự. Điều đó cho thấy ông LINHE không còn thiết tha đối với mối quan hệ hôn nhân với bà HN. Từ các cơ sở trên, chứng tỏ hôn nhân giữa bà HN và ông LINHE đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên bà HN yêu cầu ly hôn với ông Phan Văn LINHE là có căn cứ theo quy định tại Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà HN.
[3] Về con chung: Quá trình sống chung, bà HN và ông Phan Văn LINHE có 01 con chung tên Phan NHH, sinh ngày 11/6/2017. Khi ly hôn, bà HN yêu cầu được nuôi con chung. Xét thấy, cháu Phan NHH hiện đang ở cùng với bà HN đã có cuộc sống sinh hoạt ổn định. Do đó, để đảm bảo quyền và lợi ích của con chung, căn cứ theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử giao cháu Phan NHH cho bà HN trực tiếp nuôi dưỡng.
Ghi nhận sự tự nguyện của bà HN về việc không yêu cầu ông Phan Văn LINHE cấp dưỡng nuôi con chung.
[4] Về tài sản chung; nợ chung: Bà HN khai không có nên Hội đồng xét xử không xét đến.
[5] Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về án phí: Căn cứ theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-HĐTP quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, bà HN phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 119 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-HĐTP quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà HN đối với ông Phan Văn LINHE. Bà HN được ly hôn với ông Phan Văn LINHE.
2. Về con chung: giao con chung tên Phan NHH, sinh ngày 11/6/2017 cho bà HN trực tiếp nuôi dưỡng.
Ghi nhận sự tự nguyện của bà HN về việc không yêu cầu ông Phan Văn LINHE phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông Phan Văn LINHE không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai được cản trở.
Bà HN trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông Phan Văn LINHE trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 và Điều 119 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và quyết định việc thay đổi yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung; nợ chung: Bà HN khai thống nhất không có, nên không xét đến.
4. Về án phí:
Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà HN phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0007597 ngày 10 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện BĐ. Vậy, bà HN đã nộp đủ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
Bà HN, ông Phan Văn LINHE vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh BT (Phòng KTNV&THA); - VKSND huyện BĐ; - Chi cục THADS huyện BĐ; - UBND xã DHL; - Đương sự; - Lưu. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Bùi Văn Chiếu Nguyễn Văn Hiếu | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Loan THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Loan |