vanban.org

Bản án 11/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn Tuyên án 08/12/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Tuyên bố bị cáo Lý Hải  phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

* Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lý Hải  24 (Hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 02/8/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý Hải  - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? * Tuyên bố bị cáo Lý Hải  phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẮC KẠN
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2023/HSST
Ngày: 08/12/2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN – TỈNH BẮC KẠN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Dương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nông Hữu Thái

Ông Bùi Văn Khiếu.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Xuân – Thư ký viên Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Mai Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 12 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn kết nối với điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an thành phố Bắc Kạn. Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 10/2023/HSST, ngày 16 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2023/QĐXXST - HS ngày 23 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Lý Hải  (tên gọi khác: Không), sinh ngày 29 tháng 9 năm 1980 tại tỉnh B; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ N, phường H, thành phố B1, tỉnh B; chỗ ở: Không xác định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Hoàng M (đã chết) và bà Trần Thị Ng (đã chết); có vợ là Phan Thị A1 (Đã ly hôn) và 01 con (sinh năm 2002); tiền án: không; tiền sự: 02 (Ngày 13/10/2021, bị Công an phường Ng, thành phố B1 ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, mức phạt 1.500.000 đồng; ngày 08/11/2021 bị Tòa án nhân dân thành phố B1 ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ ở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng); nhân thân: Ngày 11/4/2008 bị Công an tỉnh B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, mức phạt 200.000 đồng; ngày 20/12/2011 bị Công an phường Ph, thị xã B1 (nay là thành phố B1, tỉnh B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy”, mức phạt 500.000 đồng; ngày 28/12/2018 bị Tòa án nhân dân thành phố B1 ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng; ngày 23/6/2009 bị Tòa án nhân dân thị xã B1, tỉnh B xử phạt 18 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” đã được xóa án tích).

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/8/2023 đến nay. Có mặt tại điểm cầu thành phần.

* Người tham gia tố tụng khác có mặt tại điểm cầu thành phần:

1. Ông Hoàng Thế B - Cán bộ đội CSTHAHS và HTTP công an thành phố B1.

2. Ông Nông Văn T- Cán bộ đội CSTHAHS và HTTP công an thành phố B1.

3. Ông Hoàng Văn Ph- Cán bộ đội CSTHAHS và HTTP công an thành phố B1.

4. Ông Đồng Văn L- Cán bộ đội CSTHAHS và HTTP công an thành phố B1.

5. Ông Hoàng Văn Qu - Cán bộ đội CSTHAHS và HTTP công an thành phố B.

6.Ông Đặng Đức Qu1 - Cán bộ đội CSTHAHS và HTTP công an thành phố B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 09 giờ 45 phút ngày 02/8/2023, tại khu vực cổng Nhà thi đấu tỉnh B thuộc tổ 6, phường Đ, thành phố B, tỉnh B, tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an tỉnh B bắt quả tang Lý Hải  có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Kết quả kiểm tra đã phát hiện và tạm giữ: 01 (một) gói giấy màu trắng (loại giấy vệ sinh) bên trong có 03 (ba) ống nhựa màu trắng bịt kín hai đầu, bên trong mỗi ống nhựa đều chứa chất bột màu trắng (niêm phong trong phong bì ký hiệu A1); 01 (một) điện thoại di động Viettel màu nâu, đã qua sử dụng, bên trong có lắp sim số thuê bao 0865.976.0xx (niêm phong trong phong bì ký hiệu A2).

Lý Hải  khai nhận: 03 (ba) ống nhựa màu trắng bịt kín hai đầu, bên trong mỗi ống nhựa đều chứa chất bột màu trắng cơ quan điều tra thu giữ của  là ma túy loại Heroine,  tàng trữ nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Về nguồn gốc số ma túy Lý Hải  khai: Bản thân  là người nghiện ma túy. Khoảng 09 giờ ngày 02/8/2023, Lý Hải  đi bộ từ khu vực Chợ Đ đến khu vực Đài tưởng niệm Liệt sỹ thuộc tổ 7, phường Đ, thành phố B1 để tìm mua ma tuý. Tại đây,  gặp một người đàn ông không quen biết (không biết họ tên, địa chỉ cụ thể) mặt đeo khẩu trang, qua nói chuyện  biết người đàn ông này bán ma túy nên đã hỏi mua 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng) loại ma túy Heroine thì được người đàn ông nhất trí bán. Sau khi  đưa tiền thì người đàn ông đưa lại cho  01 (một) gói giấy màu trắng (loại giấy vệ sinh) bên trong có 03 (ba) ống nhựa màu trắng bịt kín hai đầu, bên trong mỗi ống nhựa đều chứa chất ma tuý, loại Heroine. Sau khi mua được ma tuý,  cầm trong lòng bàn tay trái rồi đi bộ đến khu vực Nhà thi đấu tỉnh B để tìm nơi sử dụng. Khi chưa kịp sử dụng thì bị phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma tuý Công an tỉnh B bắt quả tang.

Tiến hành cân riêng số chất bột màu trắng thu giữ của Lý Hải  trong phong bì ký hiệu A1 có khối lượng 0,302g (không phẩy ba không hai gam). Sau khi cân, niêm phong toàn bộ số chất màu trắng vào phong bì ký hiệu M1 gửi giám định; phong bì, giấy gói, ống nhựa cũ niêm phong vào phong bì ký hiệu M2 bảo quản theo quy định.

Tại kết luận giám định số 254/KL-KTHS ngày 10/8/2023 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,302g (không phẩy ba không hai gam). Sau giám định, mẫu chất còn lại cùng phong bì, bao gói cũ niêm phong trong phong bì T147 hoàn trả lại cho Cơ quan trưng cầu.

Tại bản cáo trạng số 80/CT-VKSTP ngày 16/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố đối với Lý Hải  về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Điều luật có nội dung:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

......

c) Heroine ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

......

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

Tại phiên tòa:

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Lý Hải  phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lý Hải  từ 24 đến 30 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 02/8/2023.

Hình phạt bổ sung đề nghị không áp dụng.

Về xử lý vật chứng đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T147 và 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu M2. Tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIETTEL.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

* Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và thừa nhận việc truy tố, xét xử bị cáo là không oan, đúng người, đúng tội và xin giảm nhẹ hình phạt, hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân và Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi bị truy tố của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo thống nhất với các lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có cơ sở khẳng định:

Hồi 09 giờ 45 phút ngày 02/8/2023, tại khu vực cổng nhà thi đấu tỉnh B thuộc tổ 6, phường Đ, thành phố B1, tỉnh B, tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B bắt quả tang Lý Hải  đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,302g (không phẩy ba không hai gam) ma túy, loại Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do vậy, việc truy tố, xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự địa phương, vì vậy cần phải xử lý nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo có nhân thân xấu, có 02 tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

* Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung "Phạt tiền” theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T147, mặt trước phong bì có dòng chữ: “Mẫu hoàn trả sau giám định vụ Lý Hải  (1980), nơi thường trú: Tổ N - phường H - TP B1 - B tàng trữ trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 02/8/2023”, mặt sau phong bì có 03 (ba) chữ ký không đọc được và 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B. Tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu M2, mặt sau phong bì có 07 (bẩy) chữ ký không đọc được, 01 (một) dòng chữ “Phạm Văn Tr”, 01 (một) dòng chữ “Lý Hải ”, 01 (một) dòng chữ “Trần Văn Đ” và 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an thành phố B1, tỉnh B. Tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn. Tất cả không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIETTEL màu nâu cũ đã qua sử dụng, điện thoại có hai số IMEI: 357482065282260 và 357482065796855 bên trong điện thoại có lắp 01 (một) sim điện thoại số thuê bao 0865.976.0xx là tài sản của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.

* Trong vụ án này còn có người đàn ông đã bán ma túy cho Lý Hải Âu, nhưng do Âu không biết họ tên, địa chỉ cụ thể nên cơ quan điều tra không đủ cơ sở để xác minh, làm rõ.

* Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

* Tuyên bố bị cáo Lý Hải  phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

* Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Lý Hải  24 (Hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 02/8/2023.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T147, mặt trước phong bì có dòng chữ: “Mẫu hoàn trả sau giám định vụ Lý Hải  (1980), nơi thường trú: Tổ N - phường H - TP B1 - B tàng trữ trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 02/8/2023”, mặt sau phong bì có 03 (ba) chữ ký không đọc được và 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B. Tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu M2, mặt sau phong bì có 07 (bẩy) chữ ký không đọc được, 01 (một) dòng chữ “Phạm Văn Tr”, 01 (một) dòng chữ “Lý Hải ”, 01 (một) dòng chữ “Trần Văn Đ” và 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an thành phố B1, tỉnh B. Tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn.

- Tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIETTEL màu nâu cũ đã qua sử dụng, điện thoại có hai số IMEI: 357482065282260 và 357482065796855 bên trong điện thoại có lắp 01 (một) sim điện thoại số thuê bao 0865.976.0xx.

Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận giữa Công an thành phố Bắc Kạn và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn.

* Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Lý Hải  phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

* Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”

Cỡ chữ