- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Đình H - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Đình H phạm tội“Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHƯỚC TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2023/HSST Ngày: 22-02-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHƯỚC, TỈNH BÌNH ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quý Phúc.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Thành Nghĩa.
2. Ông Nguyễn Đình Phương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Linh, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Thuỳ Diễm - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 02 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 108/2022/TLST- HS, ngày 23 tháng 12 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 25/2023/QĐXXST-HS, ngày 30 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo:
Hoàng Đình H, sinh ngày 10 tháng 11 năm 1979 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Đình Đ (chết) và bà Vũ Thị Đ1; vợ Nguyễn Thị G, sinh năm 1981, con: có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Võ Văn T, sinh năm 1972 (Chết).
Người đại diện hợp pháp của bị hại ông Võ Văn T:
- Nguyễn Thị L, sinh năm 1969; nơi cư trú thôn P, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định là vợ ông Võ Văn T đại diện theo pháp luật; có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1994; nơi cư trú thôn A, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định là con ông Võ Văn T đại diện theo pháp luật; có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1996; nơi cư trú thôn P, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định là con ông Võ Văn T đại diện theo pháp luật; có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Chị Võ Thanh T1, sinh năm 1998; nơi cư trú thôn P, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định là con ông Võ Văn T đại diện theo pháp luật; có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Anh Võ Thanh H2, sinh năm 2001; nơi cư trú thôn P, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định là con ông Võ Văn T đại diện theo pháp luật; có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Phạm Thị L1, sinh năm 1971; nơi cư trú thôn A, xã S, huyện Q, tỉnh Nghệ An; có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
Người làm chứng:
- Hoàng Xuân H3, sinh năm 1971; nơi cư trú xóm H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
- Nguyễn T2, sinh năm 1988; nơi cư trú Xóm H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
- Nguyễn Trung T3, sinh năm 1977; nơi cư trú Thôn A, xã S, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 26/5/2022, Hoàng Đình H (có giấy phép lái xe hạng E) điều khiển xe ô tô khách biển số 37B-028.90 xuất phát từ xã S, huyện Q, tỉnh Nghệ An chở khách đến bến xe B, tỉnh Bình Dương theo hướng Bắc-N. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, H điều khiển xe ô tô khách lưu thông trên Quốc lộ A đoạn qua thôn P, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định và có biển báo “Khu vực đông dân cư” với tốc độ khoảng 68km/h thì thấy ông Võ Văn T điều khiển xe mô tô biển số 77S1-1808 lưu thông hướng cùng chiều. Ông T điều khiển xe đi phía trước ở làn đường ngoài cùng sát vỉa hè, cách đầu xe ô tô của H khoảng 15 mét. Hưởng thấy ông T điều khiển xe lạng lách nên nghĩ ông T say rượu. Hưởng có giảm tốc độ xe ô tô lại, rồi H thấy ông T điều khiển xe chuyển hướng qua bên trái đường. Lúc này, H thắng xe lại nhưng đầu xe ô tô va chạm vào xe mô tô và người của ông T, làm ông T ngã xuống đường. Hậu quả, ông Võ Văn T bị thương tích được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh B, sau đó tử vong.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 280/KL-KTHS ngày 03/6/2022 của Phòng K Công an tỉnh B: Nguyên nhân chết của ông Võ Văn T là do chấn thương sọ não.
Ngày 09/9/2022, Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện T đã định giá và kết luận: Xe mô tô biển số 77S1-1808, bị hư hỏng một số bộ phận, tại thời điểm bị xâm phạm có giá trị thành tiền là 705.000 đồng (bảy trăm lẻ năm nghìn đồng).
Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì đối với các kết luận giám định nêu trên.
Tại bản Cáo trạng số 05/CT-VKS-TP ngày 19 tháng 12 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định đã truy tố bị cáo Hoàng Đình H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên toà bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Bị cáo nhận tội và không có ý kiến tranh luận.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Bình Định đề nghị: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Hoàng Đình H về tội“Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả được đại diện hợp pháp của bị hại viết đơn bãi nại và xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo, nguyên nhân của vụ tai nạn cũng có một phần lỗi của người bị hại là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 điều 260, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Đình H từ 15 (mười lăm) đến 18 (mười tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách.
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Người đại diện hợp pháp của bị hại đã có đơn bãi nại và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên đề nghị miễn xét.
Bị cáo không trình bày lời bào chữa và cũng không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
Trong lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ án, phù hợp với kết luận giám định pháp y và phù hợp với những chứng cứ khác đã được thu thập nên Hội đồng xét xử có đầy đủ căn cứ để xác định: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 26/5/2022, Hoàng Đình H điều khiển xe ô tô khách biển số 37B-028.90 xuất phát từ xã S, huyện Q, tỉnh Nghệ An chở khách đến bến xe B, tỉnh Bình Dương theo hướng Bắc-N. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, H điều khiển xe ô tô khách lưu thông trên Quốc lộ A đoạn qua thôn P, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định và có biển báo “Khu vực đông dân cư” với tốc độ khoảng 68km/h thì thấy ông Võ Văn T điều khiển xe mô tô biển số 77S1-1808 lưu thông phía trước, hướng cùng chiều ở làn đường ngoài cùng sát vỉa hè, cách đầu xe ô tô của H khoảng 15 mét. Hưởng thấy ông T điều khiển xe lạng lách nên nghĩ ông T say rượu. Hưởng có giảm tốc độ xe ô tô lại, rồi H thấy ông T điều khiển xe chuyển hướng qua bên trái đường; lúc này, H thắng xe lại nhưng đầu xe ô tô va chạm vào xe mô tô và người của ông T, làm ông T ngã xuống đường. Hậu quả, ông Võ Văn T bị thương tích được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh B, sau đó tử vong; xe mô tô biển số 77S1-1808 bị hư hỏng.
Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm đến tính mạng và tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, được cơ quan có thẩm quyền sát hạch cấp giấy phép lái xe hạng E, nhưng khi điều khiển xe ô tô tham gia giao thông đã không tuân thủ các quy định về an toàn giao thông, không chú ý quan sát, khi qua khu vực có biển báo “Khu vực đông dân cư”, nhưng không giảm tốc độ, nên khi phát hiện ông T điều khiển xe mô tô chuyển hướng sang bên trái đường bị cáo không xử lý kịp, hậu quả đầu xe ô tô của bị cáo điều khiển đã va chạm với xe mô tô của ông T. Hành vi của bị cáo đã vi phạm vào khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ. Hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ trên của bị cáo đã gây ra hậu quả nghiêm trọng là xâm phạm đến tính mạng của ông Võ Văn T, nên đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử lý đối với bị cáo: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự. Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại với số tiền 90.000.000đ; được đại diện hợp pháp của bị hại viết đơn bãi nại và xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo; mặc khác nguyên nhân của vụ tai nạn cũng có một phần lỗi của người bị hại, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Do đó, khi áp dụng hình phạt Hội đồng xét xử căn cứ các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 của Bộ luật hình sự, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, được người đại diện hợp pháp của bị hại bãi nại và xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo, nên xét thấy không cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù, do đó khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.
Xét về trách nhiệm bồi thường thiệt hại:
- Trong quá trình điều tra, giữa bị cáo và gia đình bị hại đã tự thoả thuận và bồi thường xong các khoản thiệt hại với số tiền 90.000.000đ. Đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị L1 là chủ xe ô tô biển kiểm soát 37B-028.90 mà bị cáo Hoàng Đình H điều khiển gây tai nạn, không có yêu cầu gì. Nguời đại diện hợp pháp của bị hại cũng không yêu cầu chủ xe bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xét.
Về xử lý vật chứng: Tại phiên toà bị cáo Hoàng Đình H có nguyện vọng xin được nhận lại Giấy phép lái xe số 400048010856 mang tên Hoàng Đình H, hạng E có giá trị đến ngày 24/11/2026. Xét nguyện vọng của bị cáo là phù hợp với qui định pháp luật nên cần trả lại Giấy phép lái xe cho bị cáo.
Xét về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo Hoàng Đình H phải chịu số tiền 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.
Xét những chứng cứ mà kiểm sát viên dùng để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo các tình tiết giảm nhẹ và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 135, 136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Đình H phạm tội“Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Đình H 18 (mười tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 22 tháng 02 năm 2023).
2.1. Giao bị cáo Hoàng Đình H cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
2.2. Trường hợp bị cáo Hoàng Đình H thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy
định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019. 2.3.Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Hoàng Đình H cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Hoàng Đình H phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Trả lại cho bị cáo Hoàng Đình H 01 (một) Giấy phép lái xe số 400048010856 mang tên Hoàng Đình H, hạng E có giá trị đến ngày 24/11/2026.
Hiện vật chứng trên Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21 tháng 12 năm 2022 giữa Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Hoàng Đình H phải nộp số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 22/02/2023). Người đại diện hợp pháp của người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Định; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định; - Công an huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định; - Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định; - Bị cáo; - Người đại diện hợp pháp của bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quý Phúc |