- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc Sáu - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Ngọc S, phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2023/HSST Ngày: 10/02/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T - TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Văn Thạch
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Hồng Sơn
2. Bà Nguyễn Hoàng Bích Loan
- Thư ký phiên tòa: ông Đắc Quốc Tuân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T
- Đại diện Viện kiểm sát huyện T tham gia phiên tòa: ông Hứa Hải Dương - Kiểm sát viên.
Trong ngày 10 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 193/2022/HSST, ngày 19/12/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2023/QĐXXST-HS ngày 27/01/2023, đối với bị cáo:
Nguyễn Ngọc S (tên gọi khác: Ý) - sinh năm: 1985; tại: tỉnh Bình Thuận. Nơi cư trú: khu phố Minh Tân 2, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện T, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: làm biển; trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt nam; con ông Huỳnh Ngọc Sơn và bà Nguyễn Thị Nùng (đã chết); vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt ngày 15.11.2022 và có mặt tại phiên tòa.
Những người làm chứng:
+ Nguyễn Văn Chín - sinh năm 1993. Nơi cư trú: khu phố Phú Tân, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
+ Võ Văn Khoan - sinh năm 1988. Nơi cư trú: khu phố Minh Tân 2, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
+ Hồ Đức Thiện - sinh năm 1995. Nơi cư trú: khu phố Hiệp Phước, thị trấn Chợ Lầu, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận.
(Những người làm chứng đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắc như sau:
Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 15.11.2022, Công an huyện T phối hợp với Công an thị trấn Phan Rí Cửa tuần tra, phát hiện bắt quả tang Nguyễn Ngọc S, có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy tại khu phố Minh Tân 2, thị trấn Phan Rí Cửa. Thu giữ trong nón của Nguyễn Ngọc S đang đội trên đầu có 07 đoạn ống nhựa màu cam, được hàn kín 02 đầu, kích thước mỗi đoạn khoảng 01cm x 02 cm, bên trong đoạn ống nhựa chứa chất rắn dạng nén và S khai nhận chất rắn dạng nén là ma túy loại Heroin của S cất giấu với mục đích bán cho người nghiện để kiếm lời. Ngoài ra không thu giữ gì khác.
Cùng ngày 15.11.2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện T ra lệnh khám xét số 07, khám xét chổ ở của Nguyễn Ngọc S tại khu phố Minh Tân 2, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện T, qua khám xét thu giữ đồ vật, tài liệu liên quan gồm:
Thu giữ trên nền nhà trong phòng ngủ của S có 15 đoạn ống nhựa màu cam, hở hai đầu, kích thước giống nhau khoảng 01cm x 20cm; 01 đoạn ống nhựa màu trắng, hàn kín một đầu, hở một đầu, kích thước khoảng 01cm x 02cm; 01 đoạn ống nhựa màu tím, hở 02 đầu, kích thước khoảng 01cm x 02cm; bên trong các đoạn ống nhựa này đều không có gì. Ngoài ra không thu giữ gì khác.
Tại bản kết luận giám định số 1222/KL-KTHS ngày 21.11.2022 của phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận kết luận:
Mẫu M gửi giám định có khối lượng 0,3807 gam; là Heroine.
Quá trình điều tra Nguyễn Ngọc S khai nhận: S không sử dụng ma túy, do mục đích lợi nhuận muốn có thu nhập thêm. Khoảng 18 giờ ngày 14.11.2022, S mua Heroin của 01 người tên Thắng (không rõ lai lịch) tại hẻm thuộc khu phố Minh Tân 2, thị trấn Phan Rí Cửa số tiền 1.050.000 đồng ma túy. S mang ma túy về cất giấu sau đó phân lẻ thành 11 tép ma túy, S bán lại cho người nghiện 03 lần, 06 tép, cụ thể:
Lần 1: khoảng 08 giờ ngày 16.10.2022, S ngồi ở quán cà phê của ông Năm tại khu vực Xóm Cốt thuộc khu phố Minh Tân 2, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện T thì Nguyễn Văn Chín sinh năm 1993 đến hỏi S mua ma túy. S bán cho Chín 02 tép Heroin giá 200.000 đồng.
Lần 2: khoảng 20 giờ ngày 14.11.2022, tại nhà của S thuộc khu phố Minh Tân 2, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện T. Võ Văn Khoan (xéo) sinh năm 1988 đến nhà của S hỏi mua ma túy, S bán 03 tép Heroin cho Khoan giá 270.000 đồng.
Lần 3: khoảng 07 giờ ngày 15.11.2022, tại nhà của S thuộc khu phố Minh Tân 2, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện T. Hồ Đức Thiện sinh năm 1995 đến nhà S hỏi mua 01 tép ma túy. S bán cho Thiện 01 tép Heroin giá 80.000 đồng.
Còn lại 07 tép ma túy, S cất giấu trong nón đội trên đầu đến khoảng 8 giờ 30 phút ngày 15.11.2022. Trong lúc S đang mua bánh mì trên đường thuộc khu phố Minh Tân 2, thị trấn Phan Rí Cửa thì bị phát hiện bắt quả tang, thu giữ tang vật chứng.
Bản cáo trạng số: 05/CT-VKSTP-HS, ngày 19/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T, đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc S, về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố và tranh luận vẫn giữ nguyên cáo trạng và đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 50, Điều 38, Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc S, phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và xử phạt bị cáo mức án từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù.
Về phần xử lý vật chứng: áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015(sửa đổi bổ sung năm 2017); điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Buộc bị cáo nộp lại 550.000 đồng để tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước.
- Tịch thu tiêu huỷ 15 đoạn ống nhựa màu cam, hở hai đầu, kích thước giống nhau khoảng 01cm x 20cm; 01 đoạn ống nhựa màu trắng, hàn kín một đầu, hở một đầu, kích thước khoảng 01cm x 02cm; 01 đoạn ống nhựa màu tím, hở 02 đầu, kích thước khoảng 01cm x 02cm; bên trong các đoạn ống nhựa này đều không có gì và mẫu vật còn lại sau giám định là 0,3040 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1222
Lời nói sau cùng của bị cáo: xin Hội đồng xét xử xem xét, xử cho bị cáo một mức án thấp nhất, để bị cáo sớm trở về với gia đình hòa nhập với xã hội. Bị cáo hứa sẽ làm người tốt, không tái phạm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó có cơ sở khẳng định các hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp đúng quy định của pháp luật.
Về chứng cứ chứng minh và hành vi của bị cáo:
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Ngọc S đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu, bị cáo khẳng định những lời khai của mình trong quá trình điều tra vụ án là hoàn toàn tự nguyện, không bị bức cung, ép cung và cáo trạng truy tố là hoàn toàn đúng, không oan. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết quả giám định chất ma tuý và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: vào ngày 16/10/2022, ngày 14/11/2022 và ngày 15/11/2022 tại khu phố Minh Tân 2, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện T, Nguyễn Ngọc S đã 03 lần bán 06 tép ma túy cho Nguyễn Văn Chín, Võ Văn Khoan và Hồ Đức Thiện thu lợi số tiền 550.000 đồng và S đang tàng trữ 07 tép ma túy có khối lượng 0,3807 gam; là Heroine mục đích để bán cho người nghiện kiếm lời thì bị phát hiện bắt quả tang, thu giữ tang vật chứng.
Vì vậy, bản cáo trạng số 05/CT-VKSTP-HS, ngày 19/12/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện T, truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc S, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) như đã viện dẫn trong cáo trạng là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.
Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và mức hình phạt:
Ma tuý, là loại độc dược là chất gây nghiện mà Nhà nước đã nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, tàng trữ, mua bán, sử dụng trái phép… đây là một trong những nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội, các căn bệnh thế kỷ, làm lây truyền vi rut gây bệnh khó chữa, ảnh hưởng xấu đến sức khỏ và sự phát triển giống nòi của dân tộc, thế nhưng bị cáo đã coi thường pháp luật, bất chấp hậu quả, thực hiện hành vi tàng trữ để mua bán trái phép chất ma túy cho người khác. Hành vi của bị cáo rất nguy hiểm cho xã hội, nên cần phải xử lý bị cáo bằng một mức án nghiêm khắc, bị cáo là người nghiện ma túy, nên cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, để có đủ thời gian cai nghiện, cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt, công dân có ích cho xã hội đồng thời để bảo vệ tính nghiêm minh của pháp luật hình sự Việt Nam.
Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Hành vi của bị cáo thực hiện đã phạm vào tội:“Mua bán trái phép chất ma túy” có tính tiết định khung hình phạt “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015(sửa đổi bổ sung năm 2017). Tuy nhiên, trong quá trình điều tra bị cáo đã tự giác khai báo về hành vi mua bán trái phép chất ma túy của mình khi Cơ quan điều tra chưa phát hiện“người phạm tội tự thú” và bị cáo đã“thành khẩn khai báo”, đây là các các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nên đủ điều kiện áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) để xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng. Nên cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt, để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật Nhà nước Xã hội chủ nghĩa.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với số tiền bị cáo bán ma túy thu lợi bất chính là 550.000 đồng, nên tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước.
- Đối với 15 đoạn ống nhựa màu cam, hở hai đầu, kích thước giống nhau khoảng 01cm x 20cm; 01 đoạn ống nhựa màu trắng, hàn kín một đầu, hở một đầu, kích thước khoảng 01cm x 02cm; 01 đoạn ống nhựa màu tím, hở 02 đầu, kích thước khoảng 01cm x 02cm; bên trong các đoạn ống nhựa này đều không có gì thu giữ của bị cáo và mẫu vật còn lại sau giám định là 0,3040 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1222, là vật nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, những vật dụng dùng vào việc phạm tội, vật không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy.
Về đối tượng có liên quan:
- Đối với Nguyễn Văn Chín, Võ Văn Khoan và Hồ Đức Thiện có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an huyện T đã có công văn số 81/CQĐT đề nghị Công an xã Chí Công xử lý vi phạm hành chính đối với Chín, Khoan và Thiện.
- Đối với người thanh niên tên Thắng tại khu vực hẻm thuộc khu phố Minh Tân 2, thị trấn Phan Rí Cửa đã bán ma túy cho S, do không rõ lai lịch nên sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.
Về án phí:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Đối với quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tại phiên tòa là có căn cứ, nên được chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 50; Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
2. Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Ngọc S, phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
3. Xử phạt: bị cáo Nguyễn Ngọc S 06 (sáu) năm tù, thời gian ở tù tính từ ngày bị bắt (15/11/2022)
4. Phần xử lý vật chứng: áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015(sửa đổi bổ sung năm 2017); điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Buộc bị cáo nộp lại 550.000 đồng để tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước.
- Tịch thu tiêu huỷ 15 đoạn ống nhựa màu cam, hở hai đầu, kích thước giống nhau khoảng 01cm x 20cm; 01 đoạn ống nhựa màu trắng, hàn kín một đầu, hở một đầu, kích thước khoảng 01cm x 02cm; 01 đoạn ống nhựa màu tím, hở 02 đầu, kích thước khoảng 01cm x 02cm; bên trong các đoạn ống nhựa này đều không có gì và mẫu vật còn lại sau giám định là 0,3040 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1222.
(Vật chứng được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/12/2022 giữa Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện T).
5. Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKS (tỉnh + huyện); - Công an huyện - Chi cục THA huyện; - Bị cáo - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Thạch |