vanban.org

Bản án 11/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 07/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!CỘNG!HOÀ!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
HUYỆN!ĐÔNG!SƠN
TỈNH!THANH!HÓA!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!
Bản án số: 11/2023/HSST
Ngày: 07- 4 -2023!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!
!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HOÀ!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!ĐÔNG!SƠN,!TỈNH!THANH!HÓA!

- Thành"phần"Hội"đồng"xét"xử"gồm"có:

Thẩm"phán"-"Chủ"toạ"phiên"toà:!!Bà Lê Thị Tố Như

Các"Hội"thẩm"nhân"dân:!!Bà Trịnh Thị Bình

Ông Nguyễn Văn Long

- Thư" ký" phiên" toà: Bà Lê Thị Phương là Thư ký Toà án nhân dân huyện Đông Sơn.

- Đại" diện" Viện" kiểm" sát" nhân" dân" huyện" Đông" Sơn" tham" gia" phiên" toà: !Bà Lê Thị Nguyệt Quế - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2023/HSST ngày 24/02/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/QĐXXST-HS ngày 23/3/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: LÊ!QUANG!H, sinh năm 1998; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn PM, xã ĐH, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông: Lê Quang N và bà Lê Thị T. Bị cáo chưa có vợ; Gia đình bị cáo có hai anh em, bị cáo là con thứ hai; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/12/2022 đến ngày 04/01/2023 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Bị cáo hiện có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

1. Chị Lê Thị T, sinh năm: 1974

2. Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm: 1995

Đều trú tại: Thôn PM, xã ĐH, huyện Đông Sơn, Thanh Hóa.

Tại phiên tòa có mặt chị T, vắng mặt anh Đ.

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 13 giờ 30 phút ngày 29/12/2022, thực hiện việc giáo dục, cam kết để đảm an ninh trật tự trên địa bàn huyện, tổ công tác Công an xã Đông Hòa phối hợp với Công an huyện Đông Sơn đến nhà Lê Quang H để làm việc, yêu cầu viết cam kết (do H là đối tượng nghiện hút thuộc diện theo dõi của địa phương). Khi đến nhà thấy H đang ở trong phòng nên tổ công tác đã đi thẳng vào phòng để mời H ra làm việc. Lúc này chỉ có H ở trong phòng, tổ công tác đã phát hiện ở trên giường của H đang nằm có một túi nilon chứa các hạt tinh thể màu trắng nghi là ma túy. Tổ công tác đã thu giữ, niêm phong toàn bộ vật chứng, lập biên bản phạm tội quả tang và đưa H về trụ sở Công an làm việc.

Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đông Sơn đã tiến hành khám xét khẩn cấp tại nơi ở của Lê Quang H nhưng không phát hiện, thu giữ gì.

Sau khi bị bắt giữ Lê Quang H đã khai nhận: Do nghiện hút ma túy nên khoảng 20 giờ ngày 29/12/2022, H đã một mình đi ra khu vực cầu Đanh, xã Đông Yên, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa gặp một người thanh niên không quen biết, không rõ tên, tuổi, địa chỉ hỏi mua 1.500.000đồng ma túy loại Ketamine, sau đó H đưa tiền cho người thanh niên và cầm túi nilon chứa ma túy đi về nhà lấy một ít ra sử dụng. Số còn lại Hà cất ở đầu giường ngủ trong phòng thì bị lực lượng Công an phát hiện thu giữ.

Tại Bản kết luận giám định số 240/KL-KTHS ngày 03/01/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: gói nilon chứa các hạt tinh thể màu trắng thu giữ của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng là 1,252 gam, loại Ketamine.

Về vật chứng: Là 01 (một) phong bì niêm phong chứa 1,116 gam ma túy, loại Ketamine còn lại sau giám định do Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Sơn theo phiếu nhập kho số NK 2023/11 ngày 22/02/2023 chờ xử lý.

Tại bản cáo trạng số: 11/CT-VKS-ĐS ngày 22/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Sơn đã truy tố bị cáo Lê Quang H về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

- Về phần hình sự: Đề nghị tuyên bị cáo phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS đề nghị:

Xử phạt: Bị cáo Lê Quang H mức hình phạt từ 15 (mười lăm) tháng tù đến 18 (mười tám) tháng tù. Thời gian chấp hình phạt tù tính từ ngày 29/12/2022.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS; Điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS đề nghị: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều, 136 BLTTHS; Điều 6; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 đề nghị: Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Lời nói sau cùng bị cáo Lê Quang H đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Sau khi thẩm tra các chứng cứ có trong hồ sơ, nghe lời khai của bị cáo, ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!

!

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[ 1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đông Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến nào hoặc khiếu nại về hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[ 2]. Tại phiên tòa hôm nay qua thẩm vấn công khai!bị cáo Lê Quang H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các chứng cứ khác phản ánh trong hồ sơ. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Do nghiện hút ma tuý nên khoảng 20 giờ ngày 29/12/2022, Lê Quang H đi đến khu vực cầu Đanh, xã Đông Yên, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa mua của một người đàn ông không quen biết 01 túi nilon đựng ma túy có khối lượng 1,252 gam loại Ketamine với số tiền 1.500.000 đồng rồi đi về nhà lấy một ít ra sử dụng, số còn lại H để trên giường trong phòng ngủ thì bị tổ công tác Công an xã Đông Hòa và Công an huyện Đông Sơn, phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.

Hành vi nên trên của Lê Quang H đã phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[3]. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội thì thấy:

Bản thân Lê Quang H là đối tượng nghiện ma túy nên hơn ai hết bị cáo biết rất rõ tác hại của ma túy là ảnh hưởng nghiêm trọng đến thể chất, tinh thần của người sử dụng, ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội. Vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới sự độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Chúng ta đều biết ma túy là chất gây nghiện độc hại phá hủy trực tiếp hệ thần kinh trung ương của người sử dụng, làm cho họ phụ thuộc vào chất ma túy, hủy hoại sức khỏe của những người sử dụng, làm cho họ dần dần không còn khả năng lao động và sinh sống bình thường. Việc sử dụng ma túy còn làm cho người sử dụng không thể điều khiển được hành vi của mình và có thể dẫn đến các hành vi nguy hiểm cho bản thân và cho xã hội. Vì vậy Đảng và Nhà nước ta đã và đang tích cực phòng chống để đẩy lùi và loại trừ ma tuý ra khỏi đời sống xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của ma túy nhưng đã bất chấp các quy định của pháp luật cố ý thực hiện hành vi phạm tội nên cần phải được xử lý nghiêm khắc.

[4]. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự. Do nhân thân và tính chất nghiêm trọng của vụ án nên cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng TNHS.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự thì bị cáo Lê Quang H có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, bản thân bị cáo không có nghề nghiệp thu nhập ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6]. Đối với đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Sơn là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

[7]. Về vật chứng vụ án: Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định là 1,116 gam ma túy, loại Ketamine được đựng trong một phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, đã dán kín, niêm phong được thu giữ và quản lý theo phiếu nhập kho số NK 2023/11 ngày 22/02/2023 hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Sơn là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

[8]. Liên quan trong vụ án:

Về nguồn gốc ma túy, theo lời khai của Lê Quang H là mua của một người thanh niên không biết tên tuổi, không rõ địa chỉ ở khu vực cầu Đanh, xã Đông Yên, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Quá trình điều tra không xác định được người thanh niên đã bán ma túy cho Hà là ai, do vậy không đủ cơ sở để xử lý.

[9]. Về án phí sơ thẩm: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10]. Bị cáo được quyền kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân được quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

!

QUYẾT!ĐỊNH:!

!

1.!Căn!cứ!vào điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Các Điều 331; 333; 336; 337 BLTTHS; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTV- QH14 ngày 30/12/2016.

2.!Tuyên!bố: Bị cáo Lê Quang H phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

3.!Xử!phạt: Bị cáo Lê Quang H 15 (mười lăm) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29 tháng 12 năm 2022.

4.!Về!!xử!lý!vật!chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định là 1,116 gam, loại Ketamine được đựng trong một phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, đã dán kín, niêm phong.

(Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng và phiếu nhập kho số NK 2023/11 ngày 22/02/2023 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Đông Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Sơn)"

5.Về!án!phí: Buộc Lê Quang H phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.

6.!Về!quyền!kháng!cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi"nhận:

TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM!

- VKSND h. Đông Sơn;

THẨM!PHÁN!-!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TOÀ

- Cơ quan CSĐT CA h. Đông Sơn;

(Đã ký)

- TAND tỉnh Thanh Hóa.

- VKSND tỉnh Thanh Hóa.

- Sở Tư pháp Thanh Hóa.

- Nhà tạm giữ CA h. Đông Sơn

- Bị cáo.

- Lưu hồ sơ!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!! !!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!Lê!Thị!Tố!Như !

"""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""

Cỡ chữ