vanban.org

Bản án 11/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Sông Công, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 14/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bùi Văn K 24 (hai mƣơi bốn) tháng tù.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Tịch thu tiêu hủy: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn Kiên - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bùi Văn K 24 (hai mƣơi bốn) tháng tù.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2023/HS-ST
Ngày 14- 3 -2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Lan Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Huệ và ông Lưu Xuân Hiến

- Thư ký phiên tòa: Bà Bằng Thị Kim Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đại Dương- Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 3 năm 2023 tại UBND xã Bá Xuyên, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 07/2023/TLST-HS ngày 23 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Văn K; Tên gọi khác: Không; sinh ngày 05 tháng 8 năm 1975 tại thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên; Nơi thường trú: Xóm N, xã T, thành phố T, tỉnh T; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bùi Văn H và bà Hà Thị T; có vợ: Đỗ Thị H; Sinh năm: 1980; Có 02 con, con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2003; Tiền án: 01. Tại Bản án số 376/2020/HSST ngày 08/9/2020, Bùi Văn K bị Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt ngày 25/01/2022; Tiền sự: 01. Tại Quyết định số 3749 ngày 30/11/2022, Công an thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt đối với Bùi Văn K số tiền 1.500.000đồng về hành vi “Đánh bạc”; Nhân thân: Tại Quyết định số 158/2018/QĐ-TA ngày 14/6/2018, Bùi Văn K bị Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 13 tháng, chấp hành xong ngày 17/6/2019; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên từ ngày 09/01/2023 đến nay; có mặt.

- Người chứng kiến:Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1964; Trú tại: Xóm X xã B, thành phố S, tỉnh T; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 12 giờ 30 phút ngày 09/01/2023, Tổ công tác Công an thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên tuần tra kiểm soát tại khu vực đường Vũ Xuân, thuộc xóm Xứ Đào, xã Bá Xuyên, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên thì phát hiện Bùi Văn K có biểu hiện Tàng trữ trái phép chất ma túy, khi tổ công tác yêu cầu kiểm tra thì Kiên tự nguyện lấy từ trong lòng mũ bảo hiểm đang đội trên đầu ra 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng nghi (Heroine)giao nộp cho tổ công tác, Kiên khai nhận là ma túy loại Heroine vừa mua về sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng, niêm phong đồ vật nêu trên, ngoài ra còn tạm giữ 01 mũ bảo hiểm xe mô tô màu đỏ, có lưỡi chai màu đen (loại mũ nửa đầu), sau đó bàn giao hồ sơ vụ án đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên để giải quyết theo thẩm quyền.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sông Công phối hợp với Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên đã tiến hành mở gói niêm phong, cân toàn bộ số chất bột màu trắng thu giữ của Bùi Văn K có khối lượng là 0,187 gam và lấy mẫu vật gửi giám định theo quy định (phong bì ký hiệu A1).

Tại kết luận giám định số 256/KL-KTHS ngày 17/01/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,187 gam.

Quá trình điều tra làm rõ: Bùi Văn K là người nghiện ma túy từ năm 2017, khoảng 11 giờ ngày 09/01/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy, Kiên đến khu vực bến xe khách thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Đến nơi, Kiên thấy một người đàn ông (Kiên không biết tên tuổi, địa chỉ)đứng ở lề đường qua trao đổi, Kiên đã mua của người đàn ông này được 01 gói ma túy (loại heroine) bên trong có chất bột màu trắng được gói bằng giấy bạc màu trắng với giá 100.000 đồng. Sau khi mua được heroine, Kiên cất vào trong lòng mũ bảo hiểm và đội lên đầu. Sau đó, Kiên đi nhờ xe mô tô của người đi đường về đến khu vực xóm Xứ Đào, xã Bá Xuyên, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên xuống tìm nơi sử dụng thì bị Tổ công tác Công an thành phố Sông Công phát hiện và bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng nêu trên. Lời khai nhận tội của bị can phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, người chứng kiến, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng vụ án: 01 phong bì niêm phong ký hiệu A1, bên trong là 0,175gam mẫu ma túy còn lại sau giám định; 01 phong bì niêm phong ký hiệu A2,bên trong là vỏ phong bì niêm phong A và mảnh giấy bạc màu trắng; 01 mũ bảo hiểm màu đỏ, có lưỡi che màu đen, loại mũ nửa đầu (đã qua sử dụng). Hiện đang được bảo quản theo quy định theo đúng quy trình quản lý vật chứng.

Tại bản cáo trạng số 09/ CT-VKS ngày 22/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Bùi Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng truy tố.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù, miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo;

Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu A1, bên trong là 0,175 gam mẫu vật còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu; 01 bì niêm phong ký hiệu A2 bên trong có vỏ bì ký hiệu A và mảnh giấy bạc màu trắng; 01 mũ bảo hiểm xe mô tô màu đỏ, có lưỡi che màu đen, loại mũ nửa đầu, đã qua sử dụng. Về án phí: áp dụng Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Bị cáo không tranh luận, thừa nhận việc truy tố và xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là không oan, đúng người, đúng tội.

Bị cáo nói lời sau cùng, bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình và vô cùng ăn năn hối cải, xin được giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Sông Công, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại giai đoạn điều tra và phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi, diễn biến nội dung sự việc đúng như nội dung kết luận điều tra và cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở xác định: Hồi 12 giờ 30 phút giờ ngày 09/01/2023, tại khu vực đường Vũ Xuân, thuộc xóm Xứ Đào, xã Bá Xuyên, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên, Bùi Văn K tàng trữ trái phép 0,187 gam ma túy, loại Heroine, để sử dụng cho bản thân thì bị Công an thành phố Sông Công phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Nội dung điều luật như sau:

“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine , …có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;…”.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ.

Xét tính chất hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền các chất ma túy của Nhà nước, làm mất trật tự trị an tại địa phương, góp phần làm gia tăng các tệ nạn liên quan đến ma túy, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải; có bố đẻ và mẹ đẻ được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1; khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo còn có tiền sự về hành vi “Đánh bạc” và nhân thân bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Về hình phạt: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ nhận thức, hiểu rõ về tác hại của ma túy đối với bản thân, gia đình, xã hội nhưng lối sống buông thả, không chịu tu dưỡng bản thân nên đã vướng vào tệ nạn ma túy. Vì vậy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo nói riêng đồng thời góp phần ngăn ngừa, đấu tranh đối với tội phạm về ma túy nói chung. Mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo tại phiên tòa là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản, thu nhập. Do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cần áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, Quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Về vật chứng và đồ vật liên quan đến vụ án: Số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định và chiếc mũ bảo hiểm bị cáo dùng để cất giấu ma túy cần tịch thu, tiêu hủy.

Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Về nguồn gốc ma túy Kiên khai mua của một người đàn ông tại khu vực bến xe khách thành phố Thái Nguyên, do không xác định được lai lịch địa chỉcủa người đó nên không đủ cơ sở để điều tra xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự; Tuyên bố bị cáo Bùi Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Xử phạt: Bùi Văn K 24 (hai mƣơi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/01/2023.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Áp dụng Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Tịch thu tiêu hủy:

- 01 bì niêm phong ký hiệu A1, bên trong có 0,175 gam mẫu vật còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu;

- 01 bì niêm phong ký hiệu A2 bên trong có vỏ bì ký hiệu A và mảnh giấy bạc màu trắng;

- 01 mũ bảo hiểm xe mô tô màu đỏ, có lưỡi che màu đen, loại mũ nửa đầu, đã qua sử dụng;

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 22/02/2023 giữa Công an thành phố Sông Công và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sông Công).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/ 2016/ NQ – UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp Ngân sách Nhà nước.

Án xét xử sơ thẩm công khai. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ