- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Huỳnh Xuân T, Nguyễn Văn K, Đặng Trọng Đ, Đỗ Như Hoàng, Vũ Ngọc An, Hoàng Trọng D5, Lương Thanh N3, Trần Minh Hu, Nguyễn Văn T5 và Đinh Hồng Đ2 phạm tội Đánh bạc.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 32 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2023/HS-ST Ngày 02-03-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Đào Thị Thu Hương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thanh
Ông Nguyễn Văn Hiến.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Nam Hải - Thư ký Toà án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Kiên Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 02/03/2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Hưng Yên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 14/2023/HSTL-ST ngày 16/02/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2023/QĐXXST-HS ngày 16/02/2023, đối với các bị cáo:
1. Huỳnh Xuân T, sinh năm 1982; nơi thường trú: Khu phố 8, thị trấn T1, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; nơi tạm trú và chỗ ở hiện tại: Ấp N2, xã N1, huyện H, Tp. Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Xuân Q và con bà Cao Thị Thanh N3 (đều đã chết); có vợ là Mai Thị Cẩm Nh; con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 19/11/2022 đến ngày 24/11/2022 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang tại ngoại. Có mặt.
2. Nguyễn Văn K, sinh năm 1974; nơi cư trú: Ấp A, xã T2, huyện C2, Tp. Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Kh và con bà Huỳnh Thị B (đã chết); có vợ là Nguyễn Thị Kim L và có 03 con, con lớn sinh năm 1997, con nhỏ nhất sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 19/11/2022 đến ngày 24/11/2022 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang tại ngoại. Có mặt.
3. Đặng Trọng Đ, sinh năm 1980; nơi cư trú: Thôn Y1, xã V, huyện V1, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Trọng Lâm và con bà Nguyễn Thị X; có vợ là Lê Thị Nh1 và có 03 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 19/11/2022 đến ngày 24/11/2022 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang tại ngoại. Có mặt.
4. Trần Minh Hu, sinh năm 1975; nơi cư trú: Thôn C1, xã X1, huyện G, tp. Hà Nội; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Bá S và con bà Trần Thị D; có vợ là Nguyễn Thị A và có 02 con, con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 2004; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 19/11/2022 đến ngày 24/11/2022 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang tại ngoại. Có mặt.
5. Vũ Ngọc A1, sinh năm 1974; nơi cư trú: Thôn V2, xã B, huyện G, Tp. Hà Nội; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Ngọc Ch (đã chết) và con bà Lưu Thị M1; có vợ là Nguyễn Thị Hải A2 và có 02 con, con lớn sinh năm 1996, con nhỏ sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 19/11/2022 đến ngày 24/11/2022 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang tại ngoại. Có mặt.
6. Đỗ Như H1, sinh năm 1981; nơi cư trú: Thôn P1, xã P2, huyện Y, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Như Huệ và con bà Phạm Thị T1 (đều đã chết); có vợ là Nông Thị H2 và có 02 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 19/11/2022 đến ngày 24/11/2022 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang tại ngoại. Có mặt.
7. Lương Thanh N3, sinh năm: 1990; nơi cư trú: Ấp Chợ, xã T4, huyện C2, Tp. Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Hoàng D1 và con bà Phan Thị Hồng A3; có vợ là Nguyễn Thị Thuỳ Tr và có 01con, sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 19/11/2022 đến ngày 24/11/2022 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang tại ngoại. Có mặt.
8. Hoàng Trọng D5, sinh năm 1976; nơi cư trú: Ấp Chợ, xã T2, huyện C2, Tp. Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Trọng S1 và con bà Nguyễn Thị G; có vợ là Sam Thị Th2 và có 01con, sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 19/11/2022 đến ngày 24/11/2022 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang tại ngoại. Có mặt.
9. Nguyễn Văn T5, sinh năm 1999; nơi cư trú: Thôn P1, xã P2, huyện Y, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Phúc và con bà Trần Thị Y2; có vợ là Hà Thị Thu Tr và có 01 con, sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 20/11/2022 đến ngày 24/11/2022 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang tại ngoại. Có mặt
10. Đinh Hồng Đ2, sinh năm 1977; nơi cư trú: thôn L3, xã L2, huyện V2, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Xuân D4 và con bà Đỗ Thị Ph1 (đã chết); có vợ là Lê Thị O và có 02 con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 17/01/2012, bị Công an huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc, bằng hình thức phạt tiền. Đã chấp hành xong quyết định ngày 17/01/2012; bị tạm giữ từ ngày 21/11/2022 đến ngày 24/11/2022 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang tại ngoại. Có mặt
Người làm chứng: Ông Vũ Hải L4, sinh năm 1955, trú tại: Thôn V6, xã V4, huyện V3, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.
Người chứng kiến: Anh Đặng Văn C3, sinh năm 1998, trú tại: Thôn Lạc Cầu, xã P2, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 19/11/2022, Trần Minh Hu sinh năm: 1975, trú tại: Thôn C1, xã X1, huyện G, Tp. Hà Nội (là phó Giám đốc Công ty nệm Mousse Vạn Thành) cùng Vũ Ngọc A sinh năm: 1974, trú tại: Thôn V2, xã B, huyện G, Tp. Hà Nội; Nguyễn Văn K sinh năm: 1974, trú tại: Ấp A, xã T2, huyện C2, Tp. Hồ Chí Minh; Đặng Trọng Đ sinh năm: 1980, trú tại: Thôn Y1, xã V, huyện V1, tỉnh Thanh Hóa; Lương Thanh N, sinh năm: 1990, nơi thường trú: Ấp Chợ, xã T3, huyện C2, Tp. Hồ Chí Minh (đều là công nhân của Công ty nệm Mousse Vạn Thành) và Nguyễn Văn T5 sinh năm 1999, trú tại: Thôn Y2, xã P3, huyện Y, tỉnh Hưng Yên (là lái xe của Công ty nệm Mousse Vạn Thành) ngồi chơi uống nước trên chiếc đệm mút màu trắng trong gian phòng ngủ của phòng bảo vệ Công ty nệm Mousse Vạn Thành thuộc thôn Y2, xã P3, huyện Y, tỉnh Hưng Yên thì nhìn thấy có 01 bộ bài tú lơ khơ đã cũ để ở trên cửa sổ nên các đối tượng đã cùng rủ nhau đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền hình thức chơi “Liêng.
Khi chơi “Liêng” mọi người thống nhất cách chơi như sau: Quy định góp gà 10.000 đồng/01người/01ván, tố nhỏ nhất là 10.000 đồng, tố cao nhất là 50.000 đồng. Khi bắt đầu chơi, người chơi sau khi đặt tiền góp gà ở giữa đệm thì mỗi người được chia 03 quân bài tương đương với từng số điểm riêng. Sau đó, người chơi sẽ lựa chọn: úp bài (sẽ mất số tiền góp gà và kết thúc ván), theo (đặt tiền cược bằng với người của trên đặt), tố (đặt cược thêm tiền cao hơn so với số tiền của người cửa trên đặt). Sau khi tố xong, người T5 là người có bài cao nhất theo thứ tự: Sáp, Liêng, Ảnh, Điểm hoặc là người tố cuối nhưng không có người theo (Sáp: Là bộ bài có ba lá giống nhau. Nếu như người chơi đều có Sáp thì tính ai có Sáp cao hơn sẽ T5. Thứ tự tăng dần từ 2 đến A; Liêng: Là bộ bài có ba lá liên tiếp nhau. Khi hai người cùng có Liêng thì ai Liêng cao hơn sẽ thắng. Trong trường hợp Liêng giống nhau thì phân thắng thua bằng lá bài có chất cao nhất theo thứ tự từ lớn đến nhỏ là Rô, Cơ, Tép, Bích; Ảnh: Là bộ bài có cả ba lá bài đều là đầu người J, Q, K. Nếu cả hai người đều có Ảnh thị buộc phải so sánh chất cao nhất trong bài. Trường hợp cùng chất thì trở về so sánh thứ tự quân bài J, Q, K; Điểm: Đây là cách tính lá cơ bản nhất nếu bài không có Sáp, Liêng, Ảnh. Lấy tổng số điểm của ba lá chia cho 10, số dư sau khi chia sẽ là điểm của người chơi. Điểm của các lá bài số giữ nguyên còn 10, J, Q, K đều tính là 0 điểm. Nếu cùng điểm thì so sánh lá bài có chất cao nhất, cùng chất thì so sánh lá). Người thắng sẽ chia bài ván sau. Hu, An, K, Đ, N3 và T5 đánh bạc đến khoảng 16 giờ cùng ngày thì có Đinh Hồng Đ2 sinh năm: 1977, trú tại: Thôn Hồng Thái, xã Lạc Hồng, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên; Hoàng Trọng D5 sinh năm: 1976, trú tại: Ấp Chợ, xã T3, huyện C2, tp. Hồ Chí Minh; Đỗ Như Hoàng sinh năm: 1981, trú tại: Thôn Y2, xã P3, huyện Y, tỉnh Hưng Yên và Huỳnh Xuân T, sinh năm: 1982, trú tại: Ấp N2, xã N1, huyện H, Tp. Hồ Chí Minh (đều là công nhân và lái xe của Công ty nệm Mousse Vạn Thành) đến cùng tham gia đánh bạc. Khoảng 15 phút sau, thì lần lượt Nh, T5, Đ2, Hu dừng chơi và bỏ ra ngoài, riêng có Nh sau đó quay lại ngồi xem An, K, Đ, Hoàng, D5, T tiếp tục đánh bạc. Các đối tượng đánh bạc đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Công an huyện Y kiểm tra, phát hiện, thu giữ vật chứng và tài sản có liên quan. Cụ thể như sau:
- Tại vị trí các đối tượng ngồi đánh bạc, gồm: 01 chiếc đệm mút màu trắng, 01 bộ tú lơ khơ 52 quân bài, số tiền 70.000 đồng;
- Thu trên mặt đệm tại vị trí ngồi của Huỳnh Xuân T số tiền 300.000 đồng và trên người T số tiền 7.500.000 đồng;
- Thu trên mặt đệm tại vị trí ngồi của Nguyễn Văn K số tiền 500.000 đồng và trên người K số tiền 11.700.000 đồng;
- Thu trên mặt đệm tại vị trí ngồi của Đỗ Như H số tiền 400.000 đồng và trên người H số tiền 500.000 đồng;
- Thu trên mặt đệm tại vị trí ngồi của Đặng Trọng Đ số tiền 730.000 đồng và trên người Đ số tiền 700.000 đồng;
- Thu trên mặt đệm tại vị trí ngồi của Hoàng Trọng D5 số tiền 200.000 đồng và trên người D5 số tiền 21.500.000 đồng;
- Thu trên mặt đệm tại vị trí ngồi của Vũ Ngọc An số tiền 120.000 đồng và trên người An số tiền 550.000 đồng;
- Thu trên người Lương Thanh N3 số tiền 9.000.000 đồng.
Cùng ngày, Vũ Ngọc An, Nguyễn Văn K, Đặng Trọng Đ, Đỗ Như Hoàng, Hoàng Trọng D5, Huỳnh Xuân T, Lương Thanh N3 và Trần Minh Hu đã đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã tiến hành thu giữ số tiền 1.570.000 đồng do Hu tự nguyện giao nộp. Đến ngày 20/11/2022 và ngày 21/11/2022, lần lượt Nguyễn Văn T5 và Đinh Hồng Đ2 cũng đã đến Công an huyện Y đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện các bị cáo khai nhận: Trước khi đánh bạc, Trần Minh Hu có số tiền 1.700.000 đồng sử dụng hết để đánh bạc, đến khi dừng chơi thua 130.000 đồng còn lại 1.570.000 đồng đã giao nộp cho Cơ quan điều tra khi đầu thú. Nguyễn Văn T5 có 170.000 đồng dùng để đánh bạc và đã thua hết nên không chơi nữa. Vũ Ngọc An có 650.000 đồng sử dụng hết để đánh bạc, đã bỏ ra 100.000 đồng chơi còn lại 550.000 đồng đã bị thu giữ. Đặng Trọng Đ có 900.000 đồng sử dụng hết để đánh bạc, đã bỏ ra 200.000 đồng chơi còn lại 700.000 đồng đã bị thu giữ. Đỗ Như H có 870.000 đồng sử dụng hết để đánh bạc, đã bỏ ra 370.000 đồng chơi còn lại 500.000 đồng đã bị thu giữ. Đinh Hồng Đ2 có 850.000 đồng sử dụng hết để đánh bạc, đến khi nghỉ chơi thua 330.000 đồng còn 520.000 đồng đã tiêu xài cá nhân hết. Huỳnh Xuân T có 8.000.000 đồng, chỉ sử dụng 500.000 đồng để đánh bạc, đã bị thu giữ số tiền 7.500.000 đồng. Nguyễn Văn K có 12.200.000 đồng, chỉ sử dụng 500.000 đồng để đánh bạc, đã bị thu giữ số tiền 11.700.000 đồng. Hoàng Trọng D5 có 21.570.000 đồng, chỉ sử dụng 1.570.000 đồng để đánh bạc, đã bị thu giữ số tiền 21.500.000 đồng. Lương Thanh N3 có 9.000.000 đồng, chỉ sử dụng 150.000 đồng để đánh bạc, đến khi nghỉ chơi T5 50.000 đồng và đã tiêu xài cá nhân hết số tiền này, đã bị thu giữ số tiền 9.000.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền Huỳnh Xuân T, Nguyễn Văn K, Đặng Trọng Đ, Đỗ Như H, Vũ Ngọc An, Hoàng Trọng D5, Lương Thanh N3, Trần Minh Hu, Nguyễn Văn T5 và Đinh Hồng Đ2 sử dụng vào mục đích đánh bạc là 7.810.000 đồng.
Cơ quan điều tra đã nộp toàn bộ số tiền thu tại nơi đánh bạc và thu trong người các bị cáo là 55.340.000 đồng gửi vào tài khoản tạm gửi của Công an huyện tại Kho bạc Nhà nước huyện Y. Đối với 01 đệm mút màu trắng, 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài là công cụ thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã nhập kho vật chứng chờ xử lý.
Quá trình điều tra, các bị cáo Huỳnh Xuân T, Nguyễn Văn K, Đặng Trọng Đ, Đỗ Như Hoàng, Vũ Ngọc An, Hoàng Trọng D5, Lương Thanh N3, Trần Minh Hu, Nguyễn Văn T5 và Đinh Hồng Đ2 đều đã thành khẩn khai nhận toàn bộ diễn biến hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Cáo trạng số 18/CT-VKS-YM ngày 16/02/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y truy tố các bị cáo Huỳnh Xuân T, Nguyễn Văn K, Đặng Trọng Đ, Đỗ Như Hoàng, Vũ Ngọc An, Hoàng Trọng D5, Lương Thanh N3, Trần Minh Hu, Nguyễn Văn T5 và Đinh Hồng Đ2 đều bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Y truy tố về tội Đánh bạc, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Các bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải và xin được hưởng mức hình phạt thấp nhất. Bị cáo T, K, D5, N3 đề nghị được nhận lại số tiền các bị cáo không dùng vào mục đích đánh bạc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y trình bày luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng và đề nghị HĐXX: 1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 35; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Văn K, Đặng Trọng Đ, Hoàng Trọng D5, Lương Thanh N3, Trần Minh Hu; Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1,2 Điều 51; Điều 36; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự; Điều 100 Luật Thi hành án hình sự đối với các bị cáo Đỗ Như Hoàng và Vũ Ngọc An; Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1,2 Điều 51; Điều 65; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự, Điều 92 Luật Thi hành án hình sự đối với các bị cáo Đinh Hồng Đ2, Huỳnh Xuân T, Nguyễn Văn T5. 2. Tuyên bố: Các bị cáo Huỳnh Xuân T, Nguyễn Văn K, Đặng Trọng Đ, Đỗ Như Hoàng, Vũ Ngọc An, Hoàng Trọng D5, Lương Thanh N3, Trần Minh Hu, Nguyễn Văn T5 và Đinh Hồng Đ2 phạm tội Đánh bạc. 3. Hình phạt: Xử phạt: Bị cáo Trần Minh Hu từ 35.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước. Xử phạt: Các bị cáo Hoàng Trọng D5, Lương Thanh N3, Nguyễn Văn K và Đặng Trọng Đ mỗi bị cáo từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng sung ngân sách nhà nước. Tiền phạt nộp một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật. Xử phạt: Các bị cáo Đỗ Như Hoàng và Vũ Ngọc An mỗi bị cáo 01 năm đến 01 năm 03 tháng Cải tạo không giam giữ, các bị cáo được trừ 6 ngày tạm giữ, tương đương với 18 ngày Cải tạo không giam giữ. Miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo Hoàng và An. Xử phạt: Các bị cáo Nguyễn Văn T5, Huỳnh Xuân T 06 tháng tù đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 12 tháng đến 18 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xử phạt: Bị cáo Đinh Hồng Đ2 từ 09 tháng tù đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 18 tháng đến 24 tháng tù, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo T5, T và Đ2. Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị về vật chứng, án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Điều tra - Công an huyện Y và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Y và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa sơ thẩm đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Các bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản vụ việc, phù hợp với lời khai của người làm chứng là ông Vũ Hải Long, người chứng kiến anh Đặng Văn Công và các vật chứng thu giữ. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ 15 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 19/11/2022, tại phòng bảo vệ Công ty nệm Mousse Vạn Thành thuộc thôn Y2, xã P3, huyện Y, tỉnh Hưng Yên, Huỳnh Xuân T, Nguyễn Văn K, Đặng Trọng Đ, Đỗ Như Hoàng, Vũ Ngọc An, Hoàng Trọng D5, Lương Thanh N3, Trần Minh Hu, Nguyễn Văn T5 và Đinh Hồng Đ2 đã cùng nhau đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức chơi “Liêng” với tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 7.810.000 đồng.
Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y truy tố các bị cáo Huỳnh Xuân T, Nguyễn Văn K, Đặng Trọng Đ, Đỗ Như Hoàng, Vũ Ngọc An, Hoàng Trọng D5, Lương Thanh N3, Trần Minh Hu, Nguyễn Văn T5 và Đinh Hồng Đ2 về tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; vị trí vai trò của các bị cáo: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an. Các bị cáo đều có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức rõ tác hại của cờ bạc nhưng vì động cơ, mục đích vụ lợi, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp nên phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.
Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Cả mười bị cáo đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa cả mười bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, sau khi phạm tội các bị cáo đã ra đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự riêng của từng bị cáo, thì thấy: Bị cáo Đỗ Như H có bố đẻ là ông Đỗ Như H bị nhiễm chất độc hoá học, được tặng thưởng nhiều Huân, huy chương; bị cáo H chân trái eo, khoèo, suy giảm khả năng tự lực trong sinh hoạt, hiện được hưởng trợ cấp đối với con đẻ của người hoạt động cách mạng bị nhiễm chất độc hoá học, bị cáo có đơn xin cải tạo tại địa phương được chính quyền địa phương xác nhận đề nghị; bị cáo Đinh Hồng Đ2 có bố đẻ là ông Đinh Xuân Duyệt được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì, có mẹ đẻ là bà Đỗ Thị Phúc được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba, bị cáo Đ2 có đơn xin được cải tạo tại địa phương được chính quyền địa phương xác nhận; bị cáo Đặng Trọng Đ có bố đẻ là ông Đặng Trọng Lâm được tặng thưởng nhiều Huân, Huy chương, vợ chồng bị cáo Đ có đơn xin được áp dụng hình phạt chính là hình hình phạt tiền; bị cáo Vũ Ngọc An có bố đẻ là ông Vũ Ngọc Chấp và mẹ đẻ là bà Lưu Thị Mến được tặng thưởng nhiều Huân, Huy chương, bị cáo An bị tai nạn chấn thương tuỷ, cổ chân đi lại khó khăn nên các bị cáo Hoàng, Đ2, Đ, An được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về hình phạt: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều tham gia đánh bạc tự phát, không có sự chuẩn bị. Xét tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo cần áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền đối với các bị cáo Nguyễn Văn K, Đặng Trọng Đ, Hoàng Trọng D5, Lương Thanh N3, Trần Minh Hu; áp dụng hình phạt Cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo Đỗ Như Hoàng và Vũ Ngọc An; áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với các bị cáo Đinh Hồng Đ2, Huỳnh Xuân T, Nguyễn Văn T5 nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, đồng thời tạo điều kiện cho các bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, khuyết điểm của bản thân như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y là có căn cứ.
Về khấu trừ thu nhập và hình phạt bổ sung: Các bị cáo Hoàng và An hiện không có thu nhập ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập cho hai bị cáo; các bị cáo Đ2, T và T5 là công nhân, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên HĐXX miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
Về vật chứng:
- Những công cụ các bị cáo sử dụng để đánh bạc sẽ tịch thu, cho hủy.
- Số tiền 55.340.000 đồng thu tại chiếu bạc và trên người các bị cáo, trong đó có đủ căn cứ xác định các bị cáo sử dụng 7.290.000 đồng vào việc đánh bạc nên cần tịch thu, nộp vào ngân sách nhà nước, còn lại 48.050.000 đồng thu của bị cáo T, K, D5, N3 không sử dụng vào mục đích đánh bạc sẽ trả lại cho các bị cáo.
- Đối với số tiền 520.000 đồng là tiền Đ2 dùng vào việc đánh bạc, bị cáo đã tiêu hết, cần truy thu sung ngân sách nhà nước.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 50; điểm b, khoản 1 Điều 32; Điều 35; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Văn K, Đặng Trọng Đ, Hoàng Trọng D5, Lương Thanh N3, Trần Minh Hu.
- Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 50; điểm c khoản 1 Điều 32; Điều 36; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Đỗ Như H và Vũ Ngọc A.
- Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 50; Điều 65; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Đinh Hồng Đ2, Huỳnh Xuân T, Nguyễn Văn T5.
2. Tuyên bố: Các bị cáo Huỳnh Xuân T, Nguyễn Văn K, Đặng Trọng Đ, Đỗ Như Hoàng, Vũ Ngọc An, Hoàng Trọng D5, Lương Thanh N3, Trần Minh Hu, Nguyễn Văn T5 và Đinh Hồng Đ2 phạm tội Đánh bạc.
3. Hình phạt:
- Xử phạt: Bị cáo Trần Minh Hu 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.
- Xử phạt: Các bị cáo Hoàng Trọng D5, Lương Thanh N3, Nguyễn Văn K và Đặng Trọng Đ mỗi bị cáo 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.
Tiền phạt nộp một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Xử phạt: Các bị cáo Đỗ Như H và Vũ Ngọc A mỗi bị cáo 01 năm Cải tạo không giam giữ, được trừ 06 ngày tạm giữ, tương đương 18 ngày Cải tạo không giam giữ, thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo H và A.
Giao bị cáo Vũ Ngọc A cho Uỷ ban nhân dân xã B, huyện G, thành phố Hà Nội; bị cáo Đỗ Như Hoàng cho Uỷ ban nhân dân xã P3, huyện Y, tỉnh Hưng Yên giám sát, giáo dục trong thời gian các bị cáo thực hiện án Cải tạo không giam giữ.
Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban nhân dân nơi bị cáo cư trú trong việc giám sát giáo dục. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 100 Luật Thi Hành án hình sự.
- Xử phạt: Các bị cáo Nguyễn Văn T5, Huỳnh Xuân T mỗi bị cáo 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Xử phạt: Các bị cáo Đinh Hồng Đ2 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 02 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn T5 cho Uỷ ban nhân dân xã P3, huyện Y, tỉnh Hưng Yên; bị cáo Huỳnh Xuân T cho Uỷ ban nhân dân xã N1, huyện H, Tp. Hồ Chí Minh và bị cáo Đinh Hồng Đ2 cho Ủy ban nhân dân xã Lạc Hồng, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Trường hợp người người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
4. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015. Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc đệm và bộ bài 52 cây.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 7.290.000 đồng.
- Truy thu của bị cáo Đinh Hồng Đ2 số tiền 520.000 đồng
- Trả lại: Bị cáo Huỳnh Xuân T số tiền 7.500.000 đồng; bị cáo Nguyễn Văn K 11.700.000 đồng; bị cáo Hoàng Trọng D5 số tiền 20.000.000 đồng và trả lại bị cáo Lương Thanh N3 số tiền 8.850.000 đồng.
(Vâ ̣t chứ ng trên đa chuyển Chi cu ̣̃
c Thi hành án Dân sự huyện Y, tỉnh Hưng Yên theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28/02/2023).
5. Án phí: Các bị cáo Huỳnh Xuân T, Nguyễn Văn K, Đặng Trọng Đ, Đỗ Như H, Vũ Ngọc A, Hoàng Trọng D5, Lương Thanh N3, Trần Minh Hu, Nguyễn Văn T5 và Đinh Hồng Đ2 mỗi người phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự./. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
| Nguyễn Văn Thanh Nguyễn Văn Hiến | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Thu Hương |