- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân Trường phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YL TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2023/HS-ST Ngày: 26/4/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YL, TỈNH PHÚ THỌ
Phiên tòa diễn ra tại các điểm cầu:
* Điểm cầu trung tâm:
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Tuấn Anh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hoàng Ngọc Hân
Ông Nguyễn Đ1 Thiệu
Thư ký phiên toà: Bà Đinh Kiều Anh - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện YL, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện YL, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Phương Thảo - Kiểm sát viên.
* Điểm cầu thành phần, những người hỗ trợ tổ chức phiên tòa:
- Những người tiến hành tố tụng:
- Ông Nguyễn Xuân Huy - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện YL.
- Những người tham gia tố tụng khác:
+ Người bào chữa cho bị cáo: Bà Hoàng Thị Thanh Hải - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Phú Thọ (có mặt).
+ Ông Bùi Tiến Đạt - Kiểm tra viên VKSND huyện YL.
+ Các cán bộ, chiến sỹ Công an huyện YL, Trại tạm giam Công an tỉnh.
Ngày 26 tháng 4 năm 2023 tại điểm cầu trung tâm tổ chức tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện YL, tỉnh Phú Thọ và 01 điểm cầu thành phần tổ chức tại phòng xét xử Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ, Tòa án nhân dân huyện YL đưa ra xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/2023/TLST-HS ngày 07 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2023/QĐXXST-HS, ngày 12 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Xuân T; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 03/01/1985 tại xã Đ, huyện YL, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: Khu H, xã Đ, huyện YL, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Chức vụ Đảng, đoàn thể: Không; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Q tịch: Việt Nam; Bố đẻ: Nguyễn Kim S, sinh năm 1942 (đã chết); Mẹ đẻ: Ngô Thị D, sinh năm 1942; Vợ: Lê Ngọc L, sinh năm 1986 (đã ly hôn); Con: 02 con, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tốt; Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 14/01/2023 đến ngày 17/01/2023 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Hoàng Thị Thanh Hải - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Phú Thọ (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Phạm Duy Đ1, sinh năm 1964 (vắng mặt) Nơi cư trú: Khu T, xã Đ, huyện YL, tỉnh Phú Thọ.
Người làm chứng:
Anh Triệu Đức Q, sinh năm 2003 (vắng mặt) Nơi cư trú: Khu V, xã X, huyện YL, tỉnh Phú Thọ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 19 giờ 25 phút ngày 14/01/2023, tại khu T, xã Đ, huyện YL, tỉnh Phú Thọ, tổ công tác của Công an huyện YL phối hợp với Công an xã Đ kiểm tra đối với Phạm Duy Đ1, sinh năm 1964, HKTT: Khu T, xã Đ, huyện YL, phát hiện Phạm Duy Đ1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Quá trình kiểm tra, đối tượng Đ1 giao nộp 01 mảnh giấy hình vuông, có hai mặt đều màu trắng, một mặt có in chữ, có bám dính chất bột màu trắng. Đ1 khai nhận đó là mảnh giấy dùng để gói ma túy Heroine mà Đ1 vừa sử dụng xong, gói ma túy này Đ1 mua của Nguyễn Xuân T, sinh năm 1985, HKTT: Khu H, xã Đ, huyện YL, tỉnh Phú Thọ với giá 300.000 đồng. Tổ công tác Công an huyện YL đã tiến hành lập biên bản, niêm phong vật chứng chuyển về cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) công an huyện YL giải quyết theo thẩm quyền.
Căn cứ lời khai của Phạm Duy Đ1, ngày 14/01/2023 cơ quan CSĐT công an huyện YL đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Xuân T tại khu H, xã Đ, huyện YL, tỉnh Phú Thọ, thu giữ: 01 ví giả da màu nâu bên trong có một căn cước công dân số 025085019194 mang tên Nguyễn Xuân T cấp ngày 14/9/2021; tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam đang lưu hành 2.425.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 promax màu trắng có viền màu vàng, có ốp nhựa màu đen lắp sim số điện thoại 0976196256.
Cùng ngày 14/01/2023, Cơ quan CSĐT công an huyện YL đã làm việc, Nguyễn Xuân T đã tự nguyện giao nộp 01 gói giấy mặt trong mặt ngoài đều có chữ nhiều màu sắc, bên trong có chứa chất bột cục màu trắng. T khai là ma túy Heroine, tàng trữ để nếu có ai hỏi mua thì bán kiếm lời.
Tại cơ quan CSĐT, T khai nhận khoảng 19 giờ ngày 14/01/2023, khi T đang ở nhà tại khu H, xã Đ, huyện YL, tỉnh Phú Thọ thì Phạm Duy Đ1, sinh năm 1964, HKTT: Khu T, xã Đ, huyện YL, tỉnh Phú Thọ gọi điện đến số điện thoại 0976196256 của T bằng số điện thoại 0984156389 hỏi mua 01 gói ma túy. T đồng ý bán 01 gói ma túy cho Đ1 với giá 300.000 đồng và hẹn Đ1 đến ngã tư thuộc khu H, xã Đ, huyện YL để bán ma túy. Khoảng 10 phút sau, T đi ra chỗ hẹn, khi đến nơi T thấy Phạm Duy Đ1 đi cùng anh Triệu Đức Q, sinh năm 2003, HKTT: Xã X, huyện YL, tỉnh Phú Thọ. T đưa cho Đ1 01 gói ma túy Heroine được gói bằng giấy trắng, một mặt có in chữ. Đ1 cầm gói ma túy rồi đưa cho T 300.000 đồng. T cầm tiền cất vào trong người rồi đi về nhà, còn Đ1 đi đâu T không biết. Về nguồn gốc ma túy có được: T khai nhận ngày 14/01/2023, T mua ma túy của một người đàn ông ở khu vực Cầu Giấy, thành phố Hà Nội (T không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) với giá 900.000 đồng được 03 gói ma túy. Sau đó T đã sử dụng hết 01 gói cho bản thân (Gói ma túy T đã sử dụng hết nên không xác định được khối lượng), 01 gói bán cho Phạm Duy Đ1 ngày 14/01/2023 (Đ1 đã sử dụng hết nên không xác định được khối lượng), còn 01 gói T tàng trữ để nếu có ai hỏi mua thì bán. Căn cứ lời khai của T, cơ quan CSĐT đã đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng chưa làm rõ được người đàn ông này như lời khai của T.
Lời khai của T phù hợp với biên bản kiểm tra, vật chứng thu giữ, lời khai người làm chứng, người liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Ngày 14/01/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện YL đã đã ra quyết định trưng cầu giám định Phòng KTHS Công an tỉnh Phú Thọ giám định 01 mảnh giấy hình vuông, có hai mặt đều màu trắng, một mặt có in chữ, có bám dính chất bột màu trắng thu của Phạm Duy Đ1 và 01 gói ma túy thu của Nguyễn Xuân T. Tại bản kết luận giám định số 154/KL-KTHS ngày 16/01/2023 của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Phú Thọ kết luận:
- Chất bột màu trắng bám dính trên bề mặt 01 mảnh giấy màu trắng cả hai mặt, một mặt có chữ trong Bì niêm phong ghi Vật chứng thu giữ của Phạm Duy Đ1 gửi đến giám định là ma túy, loại Heroin (có khối lượng là 0,000 gam).
- Chất bột, cục màu trắng chứa trong 01 gói giấy mặt trong và mặt ngoài đều màu trắng, có chữ nhiều màu sắc trong Bì niêm phong ghi Vật chứng thu giữ của Nguyễn Xuân T gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng là 0,082 gam, loại: Heroin.
* Heroin (hay Heroine): số thứ tự 09. Danh mục IA, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ.
Hành vi của Nguyễn Xuân T bán 01 gói ma túy loại Heroine cho Phạm Duy Đ1, sinh năm 1964, HKTT: Khu T, xã Đ, huyện YL thu lời 300.000 đồng (Gói ma túy này, Đ1 đã sử dụng hết nên không xác định được khối lượng) và tàng trữ 01 gói ma túy loại Heroine có khối lượng 0,082 gam nhằm mục đích để bán đã cấu thành tội mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại bản cáo trạng số 14/CT-VKSYL-HS ngày 06/4/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện YL, tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo Nguyễn Xuân T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS.
Xử phạt Nguyễn Xuân T từ 36 tháng đến 42 tháng tù. Thời hạn tù tính từ khi bị bắt tạm giữ là ngày 14/01/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Áp dụng Điều 47 BLHS, khoản 1, điểm a, b khoản 2, khoản 3 Điều 106 BLTTHS.
Tịch thu để tiêu hủy gồm: Bì giấy niêm phong bên trong có chứa ma túy còn lại sau giám định là 0,067 gam Heroin.
Trả lại cho bị cáo 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Xuân T và 01 ví giả da màu nâu.
Trả lại số tiền 2.125.000 đồng cho Nguyễn Xuân T.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động IPHONE 13 ProMax màu trắng, viền vàng có ốp lưng bằng nhựa màu đen, kèm theo sim số 0976196256, điện thoại đã qua sử dụng và tịch thu số tiền 300.000 đồng là tiền T bán ma túy cho Đ1.
Về án phí: Miễn cho bị cáo vì thuộc hộ cận nghèo.
Người bào chữa cho bị cáo: Không tranh luận gì về tội danh, nhất trí với tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố và tình tiết giảm nhẹ như Kiểm sát viên đã đề nghị. Bị cáo thuộc hộ cận nghèo, nhận thức pháp luật thấp, chưa đầy đủ quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng ma túy. Bị cáo không có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét phạt bị cáo tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và nhẹ nhất theo khung hình phạt của Viện kiểm sát để bị cáo cải tạo, giáo dục trở thành người công dân tốt cho xã hội.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện YL, tỉnh Phú Thọ.
Bị cáo không tranh luận về tội danh cũng như bào chữa về phần hình phạt.
Bị cáo nói lời sau cùng: Mong Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo được cải tạo sớm trở về gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Khoảng hơn 19 giờ ngày 14/01/2023, tại khu H, xã Đ, huyện YL, tỉnh Phú Thọ, Nguyễn Xuân T, sinh ngày 03/01/1985 ở khu H, xã Đ, huyện YL có hành vi mua bán trái phép 01 gói ma túy loại Heroine cho Phạm Duy Đ1, sinh năm 1964, HKTT: Khu T, xã Đ, huyện YL, tỉnh Phú Thọ, thu lời 300.000 đồng (gói ma túy này Đ1 đã sử dụng hết nên không xác định được khối lượng) và tàng trữ 01 gói ma túy loại Heroine có khối lượng là 0,082 gam nhằm mục đích để bán kiếm lời.
Sự khai nhận này hoàn toàn phù hợp với biên bản khám xét ban đầu, biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, lời khai của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng trong vụ án tại Cơ quan CSĐT và tại phiên tòa. Do vậy có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Xuân T cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân huyện YL, tỉnh Phú Thọ, truy tố bị cáo về tội danh là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 251 Bộ luật hình sự về Tội mua bán trái phép chất ma túy.
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”
Xét tính chất vụ án: Bị cáo phạm tội nghiêm trọng, vì nghiện ma túy và lợi nhuận cao nên bị cáo đã mua ma túy nhằm mục đích sau đó bán lại kiếm lời. Hành vi bán trái phép chất ma túy (Heroine) của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, các chất gây nghiện, loạn thần.... Bởi vì ma túy để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng, gây ra nhiều tác hại cho sức khỏe con người, là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội khác như trộm cắp, lừa đảo, cướp giật tài sản,...để có tiền mua bán, sử dụng trái phép ma túy. Hành vi đó đã gây mất trật tự an ninh trên địa bàn, bị xã hội lên án. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong toàn xã hội hiện nay.
Xét nhân thân của bị cáo thấy rằng: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt. Tại Cơ quan CSĐT và phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Xong cũng cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống chung của xã hội một thời gian thích hợp để bị cáo cải tạo sớm trở thành người có ích cho gia đình và xã hội sau này.
Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 251 BLHS có quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Theo biên bản xác minh tài sản ngày 13/3/2023 của Cơ quan CSĐT Công an huyện YL và tại phiên tòa đã xác định: Bị cáo không có tài sản, đang ở nhờ nhà mẹ đẻ, không có thu nhập và tài sản gì. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với Phạm Duy Đ1 là người nghiện ma túy, mua ma túy của T để sử dụng cho bản thân, số ma túy Đ1 đã sử dụng hết nên không xác định được khối lượng. Cơ quan CSĐT đã chuyển hồ sơ cho Công an huyện YL ra quyết định xử phạt hành chính số 35/QĐ-XPHC, ngày 23/3/2023 số tiền 1.500.000 đồng đối với Đ1 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là phù hợp.
Đối với Nguyễn Xuân T khai nhận trước khi bán ma túy cho Đ1, T đã sử dụng cho bản thân 01 gói ma túy, số ma túy T đã sử dụng hết nên không xác định được khối lượng Cơ quan CSĐT đã chuyển hồ sơ cho Công an huyện YL ra quyết định xử phạt hành chính số 45/QĐ-XPHC, ngày 03/4/2023 số tiền 1.500.000 đồng đối với T về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là phù hợp.
Đối với Triệu Đ1 Q trong quá trình điều tra xác định Q không biết việc Đ1 mua ma túy của T và không sử dụng ma túy cùng Đ1. Do vậy, cơ quan điều tra không đề cập xử lý gì đối với Q là phù hợp.
Xét về vật chứng gồm:
Đối với 0,067 gam Heroine thu của Nguyễn Xuân T còn lại sau khi giám định cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định, được niêm phong, dán kín trong bì giấy, có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và đóng 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ tại các mép dán, là vật chứng bị cấm lưu hành, nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Xuân T và 01 ví giả da màu nâu là tài sản của bị cáo, không liên quan đến tội phạm, do vậy cần trả lại cho bị cáo.
Đối với số tiền 2.425.000 đồng thu giữ của Nguyễn Xuân T, quá trình điều tra xác định không liên quan đến tội phạm số tiền 2.125.000 đồng, do vậy cần trả lại cho bị cáo. Số tiền 300.000 đồng là tiền T bán ma túy cho Đ1, do vậy cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động IPHONE 13 ProMax màu trắng, viền vàng có ốp lưng bằng nhựa màu đen, kèm theo sim số 0976196256, điện thoại đã qua sử dụng. Quá trình điều tra đã chứng minh bị cáo dùng để liên lạc bán ma túy, do vậy cần tịch thu bán phát mại sung quỹ nhà nước.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo thuộc hộ cận nghèo, tại phiên tòa bị cáo có yêu cầu do vậy cần chấp nhận.
Quá trình tiến hành các hoạt động tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an huyện YL, Điều tra viên; Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Phú Thọ; Viện kiểm sát nhân dân huyện YL, Kiểm sát viên trong quá trình kiểm sát điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đề nghị của Kiểm sát viên về áp dụng điều luật, hình phạt, cũng như xử lý vật chứng là có căn cứ và phù hợp pháp luật nên cần xem xét chấp nhận.
Đề nghị của người bào chữa nhất trí về đề nghị của Viện kiểm sát về điều luật, hình phạt, xử lý vật chứng là có căn cứ nên cần xem xét chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Phạt: Nguyễn Xuân T 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ là ngày 14/01/2023.
Không phạt bổ sung đối với bị cáo.
Căn cứ khoản 1 Điều 47 BLHS, khoản 1, điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, Điều 331, Điều 333 của BLTTHS.
- Tịch thu để tiêu hủy: 0,067 gam Heroine thu của Nguyễn Xuân T sau khi giám định còn lại cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định, được niêm phong, dán kín trong bì giấy, có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và đóng 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ tại các mép dán.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) thu giữ của Nguyễn Xuân T.
- Tịch thu bán, nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 13 ProMax màu trắng, viền vàng có ốp lưng bằng nhựa màu đen, kèm theo sim số 0976196256, điện thoại đã qua sử dụng là tài sản của Nguyễn Xuân T.
- Trả lại cho bị cáo 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Xuân T, 01 ví giả da màu nâu và số tiền 2.125.000đ (Hai triệu một trăm hai mươi lăm nghìn đồng) cho Nguyễn Xuân T.
Vật chứng đang được tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện YL, tỉnh Phú Thọ, theo biên bản giao nhận ngày 06/4/2023.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23, điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Xuân T vì thuộc hộ cận nghèo.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có mặt được quyền kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết nơi cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND huyện + tỉnh; - Cơ quan CSĐT CA huyện; - THAHS; Cơ quan THAHS CA huyện; - Chi cục THADS; - Trại tạm giam CA tỉnh; - Bị cáo; Người TGTT khác; - Lưu HS,VP (12b). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Tuấn Anh |