- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự tuyên trả lại; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2023/HS-ST Ngày 09-3-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V - TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải Lý.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Tiến Sang
2. Ông Nguyễn Thanh Nghĩa
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Doãn Thị Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 3 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnhThái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 10/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2023/QĐXXST- HS ngày 23 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:
Trần Văn D, sinh ngày 01 tháng 8 năm 1974 tại tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: thôn B, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ văn hóa: 07/12; con ông: Trần Văn D và bà Trần Thị N; có vợ là Trần Thị L (đã ly hôn năm 2017) và 01 con; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 02 tháng 4 năm 2013 bị công an huyện V xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500.000đồng về hành vi “ đánh bạc”, đã nộp phạt xong theo Biên lai thu tiền số 0004368 ngày 24 tháng 6 năm 2013
- Ngày 07 tháng 5 năm 2018 bị Tòa án nhân dân huyện V ra Quyết định số 03/2018/QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng, chấp hành xong ngày 16 tháng 5 năm 2020.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 18 tháng 11 năm 2022 đến ngày 24 tháng 11 năm 2022 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình (Có mặt).
* Người bào chữa của bị cáo Diện: Ông Nguyễn Tiến S, sinh năm 1970
Là trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Thái Bình
Địa chỉ: Số 06, phố H, thành phố T, tỉnh Thái Bình
* Người làm chứng:
- Bà Trần Thị V, sinh năm 1972.
Địa chỉ cư trú: Thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình.
- Ông Hoàng Xuân P, sinh năm 1953.
Địa chỉ cư trú: Số nhà x, ngõ x, tổ x, phường P, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
* Người chứng kiến:
- Ông Nguyễn Tiến V, sinh năm 1973
Địa chỉ: Số nhà x, ngõ x, tổ x, phường P, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
- Anh Nguyễn Trọng T, sinh năm 1974
Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình;
(Ông S có mặt;
Bà V, ông P, Ông V, ông T vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 00 ngày 18 tháng 11 năm 2022, Trần Văn D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Cub, màu sơn xanh, biển kiểm soát 17F1 - xxxx từ nhà đến khu vực chợ Q, phường Q, thành phố T gặp và hỏi mua của một người nam giới khoảng 40 tuổi đứng ở ngõ nhỏ cạnh chợ (D không biết tên tuổi, địa chỉ) 200.000 đồng được 01 gói ma túy loại Heroine, được gói bằng giấy trắng có dòng kẻ để sử dụng cho bản thân. D giấu gói ma túy vừa mua được vào túi áo ngực bên phải phía trước đang mặc rồi điều khiển xe đi tìm nơi để sử dụng. Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, D đi đến khu vực đường ĐH07, cạnh nghĩa trang thôn L, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình thì bị tổ công tác Công an huyện V yêu cầu cho kiểm tra. Trước sự chứng kiến của ông Nguyễn Tiến V và ông Nguyễn Trọng T tổ công tác kiểm tra người D, phát hiện và thu giữ tại túi áo ngực bên phải phía trước D đang mặc 01 gói bên ngoài gói bằng giấy trắng có dòng kẻ, D khai nhận đó là Heroine, D vừa mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác mở gói này kiểm tra, thấy bên ngoài gói bằng giấy trắng có dòng kẻ, trong cùng chứa chất bột dạng cục màu trắng, rồi niêm phong gói này trong phong bì. Kiểm tra tại túi quần dài bên trái phía trước D đang mặc 01 bơm tiêm (xilanh) chưa sử dụng. Kiểm tra xe mô tô biển số 17F1-xxxx nhưng không phát hiện, thu giữ gì khác. Tổ công tác đã yêu cầu D đưa xe mô tô và mời người chứng kiến về trụ sở Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu theo quy định pháp luật.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn D đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Kết luận giám định số 437/KL - KTHS(MT) ngày 21 tháng 11 năm 2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: “Mẫu vật gửi giám định là ma túy, loại Heroin (Heroine), có khối lượng 0,1246 gam (Không phẩy một nghìn hai trăm bốn mươi sáu gam)”.
Cáo trạng số 12/CT-VKSVT ngày 10 tháng 02 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện V đã truy tố bị cáo Trần Văn D về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự; tuyên bố: Bị cáo Trần Văn D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt Trần Văn D mức án từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18 tháng 11 năm 2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì bị cáo không có tài sản riêng và thu nhập không ổn định.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,0848 gam ma túy, loại Heroine hoàn lại sau giám định niêm phong trong phong bì số 437/KL-KTHS (MT) ngày 21 tháng 11 năm 2022 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình; 01 bơm tiêm (xilanh) chưa qua sử dụng.
Trả lại cho bị cáo 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Cub, biển kiểm soát 17F1
- xxxx, màu sơn xanh, đã cũ đã qua sử dụng.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
* Người bào chữa cho bị cáo đề nghị HĐXX xem xét:
Bị cáo có nhân thân xấu; không có tiền án, tiền sự. Bị cáo là đối tượng được hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng, là con đẻ của người bị nhiễm chất độc hóa học trong hoạt động kháng chiến. Bố của bị cáo là thương binh hạng 1/8; được Hội đồng Nhà nước nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng Huân chương kháng chiến hạng 3; được Chủ tịch nước thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng ba; được Đoàn chủ tịch ủy ban Trung ương mặt trận dân tộc giải phóng miền nam, Việt Nam tặng Huy chương chiến sĩ giải phóng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đến mức thấp nhất như vị đại diện viện kiểm sát đề nghị, tạo điều kiện cho bị cáo sớm được trở về với gia đình và hòa nhập cộng đồng, có điều kiện để chữa bệnh
Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì và không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Các chứng cứ buộc tội bị cáo:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và nội dung bản cáo trạng đã truy tố, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V; Bản Kết luận giám định số 437/KL - KTHS (MT) ngày 21 tháng 11 năm 2022 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình; Biên bản ghi lời khai của bà Trần Thị V và ông Hoàng Xuân P, ông Nguyễn Tiến V, ông Nguyễn Trọng T. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 18 tháng 11 năm 2022, tại đường ĐH 07, cạnh nghĩa trang thôn L, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình, tổ công tác Công an huyện V, tỉnh Thái Bình phát hiện, bắt quả tang Trần Văn D đang cất giấu trái phép tại túi áo ngực bên phải phía trước đang mặc 01 gói ma túy, loại Heroine (Heroin), có khối lượng là 0,1246 gam, để sử dụng cho bản thân.
Hành vi của Trần Văn D đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự .
“Điều 249 . Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
....
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”
Đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo:
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, loại Heroine có khối lượng 0,1246 gam (Không phẩy một nghìn hai trăm bốn mươi sáu gam) tại túi áo ngực bên phải phía trước, mục đích để sử dụng cho bản thân của Trần Văn D là hành vi nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó đã xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, ngoài ra còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Tệ nạn ma tuý đang là hiểm họa của các quốc gia, dân tộc trên toàn thế giới. Những năm qua, tệ nạn ma tuý ở Việt Nam vẫn đang diễn biến hết sức phức tạp và có xu hướng gia tăng cùng với việc xuất hiện nhiều loại ma tuý mới. Ma túy là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm phát sinh nhiều loại tội phạm, tệ nạn xã hội và lây nhiễm HIV/AIDS. Hậu quả, tác hại do tệ nạn ma tuý gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng đến phát triển kinh tế - xã hội và an ninh trật tự của đất nước. Ma tuý làm huỷ hoại sức khoẻ dẫn đến mất khả năng lao động, suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia.
Bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, mặc dù bị cáo biết rõ tác hại của ma túy cũng như mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi do mình thực hiện nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện tội phạm, thể hiện sự coi thường pháp luật.
Đánh giá về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo D có nhân thân xấu. Năm 2013, D đã từng bị Công an huyện Vũ Thư xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc. Năm 2018, D bị Tòa án nhân dân huyện V ra Quyết định số 03/2018/QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng, chấp hành xong ngày 16 tháng 5 năm 2020 nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để rèn luyện, tu dưỡng, cải sửa bản thân mà lại tiếp tục phạm tội.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được áp dụng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Mặt khác, ông Trần Văn D bố đẻ của bị cáo là thương binh hạng 1/8; được Hội đồng Nhà nước nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng Huân chương kháng chiến hạng 3; được Chủ tịch nước thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng ba; được Đoàn chủ tịch ủy ban Trung ương mặt trận dân tộc giải phóng miền nam, Việt Nam tặng Huy chương chiến sĩ giải phóng nên bị cáo được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về mức hình phạt và biện pháp chấp hành hình phạt:
Căn cứ vào hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy: cần phải xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, buộc bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo đồng thời có tác dụng chung trong việc đấu tranh và phòng ngừa tội phạm.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Xét thấy, bị cáo D tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân, không vì mục đích vụ lợi. Bị cáo lao động tự do, không có tài sản riêng và thu nhập không ổn định. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng và tài sản:
Đối với số ma túy, loại Heroine giám định hoàn lại còn lại 0,0848(Không phẩy không nghìn tám trăm bốn mươi tám gam) niêm phong trong phong bì 437/KL - KTHS (MT) ngày 21 tháng 11 năm 2022 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình là vật chứng của vụ án, thuộc loại Nhà nước độc quyền quản lý và cấm tàng trữ nên cần áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu để tiêu huỷ.
01 bơm tiêm (xi lanh) là công cụ dùng vào việc phạm tội nên cần áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu để tiêu huỷ.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Cub biển kiểm soát 17F1-xxxx, D khai được chị Trần Thị V (chị gái D), sinh năm 1972, trú tại thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình cho chiếc xe mô tô trên làm phương tiện đi lại. Cơ quan điều tra xác định chiếc xe trên do ông Hoàng Xuân P, địa chỉ phường P, thành phố Thái Bình đăng ký sở hữu. Năm 2005, ông P đã bán xe cho chị Trần Thị V làm phương tiện đi lại, khi bán không có giấy tờ mua bán chỉ giao đăng ký xe. Chị V khai khoảng tháng 10 năm 2022, chị V đã cho chiếc xe mô tô trên cho em trai ruột là Trần Văn D làm phương tiện đi lại, khi cho, tặng không viết giấy tờ gì. Ngày 18/11/2022, chị V không biết việc D sử dụng chiếc xe mô tô trên để đi mua ma túy về sử dụng. Chị không có yêu cầu gì đối với chiếc xe mô tô nói trên. Xét lời khai của chị V phù hợp với lời khai của D nên cần áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự tuyên trả lại cho bị cáo.
Về những vấn đề khác trong vụ án:
Đối với người nam giới khoảng 40 tuổi đã bán ma túy cho Trần Văn D, do D khai không quen biết, không có thông tin về họ tên, địa chỉ nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38; điểm b khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý án phí, lệ phí Tòa án:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt Trần Văn D 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18 tháng 11 năm 2022.
3. Về xử lý vật chứng và tài sản:
Tịch thu tiêu hủy: 0,0848 (Không phẩy không nghìn tám trăm bốn mươi tám gam) gam ma túy, loại Heroine hoàn lại sau giám định niêm phong trong phong bì số 437/KL - KTHS (MT) ngày 21 tháng 11 năm 2022 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình; 01 bơm kim tiêm.
Trả lại cho bị cáo Trần Văn D 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Cub, biển kiểm soát 17F1 - xxxx, màu sơn xanh, đã cũ đã qua sử dụng.
(Vật chứng của vụ án đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện V theo Phiếu nhập kho vật chứng ngày 14 tháng 02 năm 2023).
4. Về án phí: Bị cáo Trần Văn D phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
“ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Văn D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 09 tháng 3 năm 2023).
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình; - Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình; - Viện kiểm sát nhân dân huyện V; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện V; - Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình; - CQTHAHS - CQCSĐT Công an huyện V - Lưu Hồ sơ; - Lưu HCTP. | TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) |