- Tranh chấp gì? án hình sự — "chung minh t - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2023/HS-ST Ngày 15 tháng 02 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Trường Hận
2. Ông Huỳnh Văn Năm
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Cẩm Hường - Là Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời tham gia phiên tòa: Ông Võ Quốc Dương - Kiểm sát viên. Ngày 15 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2023/TLST-HS, ngày 31 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2023/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 02 năm 2023 đối với: Bị cáo: Chung Minh T, sinh ngày 19/3/1993; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp K, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 7/12; Con ông Chung Minh C, sinh năm 1960 (còn sống); Con bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1958 (còn sống); vợ: chưa có; anh chị em ruột có 02 người (lớn nhất sinh năm 1976, nhỏ nhất sinh năm 1978; Tiền án: Không; Tiền sự: 02 lần. Ngày 11/3/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời áp dụng biên pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buột thời gian 12 tháng theo Quyết định số 12/QĐ-TA, chấp hành xong ngày 21/11/2020 tại cơ sở ma túy tỉnh Cà Mau. Ngày 07/5/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời áp dụng biên pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buột thời gian 12 tháng theo Quyết định số 59/QĐ-TA ngày 14/3/2021, chấp hành xong ngày 14/3/2022 tại cơ sở ma túy tỉnh Cà Mau (chưa xóa tiền sự). Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ ngày 11/11/2022, sau đó khởi tố chuyển tạm giam đến nay.
Bị cáo đang tạm giam có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Ngô Hoài P, sinh năm 1981 (có mặt); Địa chỉ: Khóm E, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào lúc 17 giờ 00 phút ngày 11/11/2022, Chung Minh T điều khiển xe mô tô loại Wave alpha màu xanh, biển số kiểm soát 69B1-227.38 từ thị trấn S đến phường G, thành phố C để mua ma túy đá, mục đích đem về thị trấn S để sử dụng. Khi đến thành phố C, T chạy xe vào con hẽm (không nhớ tên, địa chỉ), do T đã từng mua ma túy tại đây, T để 500.000 đồng vào gốc cây, khoảng 15 phút sau T quay lại thì thấy có 01 bọc nilon màu trắng có viền màu đỏ bóp kín miệng đặt ở gốc cây, T lấy bọc nilon bỏ vào túi quần bên trái phía trước rồi điều khiển xe đi về Sông Đ. T không biết mặt và tên người bán ma túy.
Đến khoảng 22 giờ 00 phút, T về đến thị trấn S để tìm bạn bè cùng nhau sử dụng ma túy nhưng T không liên hệ được ai và không tìm được nơi để sử dụng ma túy. Khoảng 23 giờ 45 phút cùng ngày T điều khiển xe đi vào khu vực dưới gầm cầu R, thuộc khóm A, thị trấn S thì dừng xe lại, T đang ngồi trên xe thì bị lực lượng Công an thị trấn S tuần tra đến kiểm tra. T dùng tay trái đưa vào túi quần bên trái phía trước cầm lấy gói ma túy bỏ xuống nền xi măng chỗ đậu xe để tẩu táng. Lực lượng Công an thị trấn S tiến hành bắt quả tang và thu giữ toàn bộ trọng lượng ma túy nêu trên của T.
Vật chứng thu giữ: 01 xe môtô nhãn hiệu Honda, loại Wave màu xanh, biển số 69B1-227.38; 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu Huawel màu xanh, có 01 sim số 0948858379 (không còn hoạt động); 01 điện thoại di động cảm ứng, hiệu Black Berry màu đen trắng, có 01 sim số 0923.440.724 (tình trạng sim không hoạt động); 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh đen, không gắn pin, sim (tình trạng không hoạt động); 01 áo sơ mi bằng vải dài tay, sọc ca rô, màu vàng xanh, phía sau lưng có in hình và chữ Evisu; 01 quần Jean dài màu đen, phía trong lưng quần có chữ E.
*/ Kết luận giám định số 358/KL-KTHS ngày 14/11/2022 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh C kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng bên trong bọc nilon màu trắng có viền đỏ được bóp kín miệng, niêm phong trong phong bì hình chữ nhật gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,4862gam, loại Methamphetamine.
*/ Tại cáo trạng số: 15/CT-VKS ngày 27/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời truy tố Chung M về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn T1 truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chấp ma túy” là đúng, không oan sai; các lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra là do bị cáo tự nguyện khai; không ai ép cung, móm cung gì đối với bị cáo.
Tại phiên tòa, anh Ngô Hoài P yêu cầu được xin lại xe máy nhãn hiệu Wave alpha màu xanh, biển số kiểm soát 69B1-227.38 là xe anh cho bị cáo mượn.
Tại phiên tòa ý kiến của Kiểm sát viên phát biểu quan điểm luận tội đối với bị cáo là giữ nguyên Cáo trạng số: 15/CT-VKS ngày 27 tháng 01 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn T1 và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, phạt bị cáo T từ 01 năm đến 02 năm tù; Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015,
Tịch thu tiêu hủy: 01 Phong bì được niêm phong số 358/KL-KTHS ngày 14/11/2022 của Phòng kỷ thuật hình sự - Công an tỉnh C; 01 áo sơ mi bằng vải dài tay, sọc ca rô, màu vàng xanh, phía sau lưng có in hình và chữ Evisu; 01 quần Jean dài, màu đen, phía trong lưng quần có chữ E.
Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu Huawel màu xanh, có 01 sim số 0948858379 (không còn hoạt động); 01 điện thoại di động cảm ứng, hiệu Black Berry màu đen trắng, có 01 sim số 0923.440.724 (tình trạng sim không hoạt động); 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh đen, không gắn pin, sim (tình trạng không hoạt động).
Trả lại cho anh Ngô Hoài P 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave alpha màu xanh, biển số kiểm soát 69B1-227.38
Bị cáo không tham gia tranh luận chỉ nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn T1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như sau: Lúc 23 giờ 45 phút ngày 11/11/2022, Công an thị trấn S bắt quả tang đối tượng Chung Minh T đang tàng trữ trái phép chất ma túy tại khu vực khóm A, thị trấn S, huyện T. Lực lượng tiến hành khám xét thu giữ: 01 bịch nilon màu trắng có viền màu đỏ bóp kín miệng bên trong có các hạt tinh thể trong suốt dạng rắn màu trắng được lấy từ túi quần ra bỏ xuống nền xi măng chỗ đậu xe của bị cáo nhằm để tẩu táng. Ngoài ra còn thu giữ 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu Huawel màu xanh, có 01 sim số 0948858379 (không còn hoạt động); 01 điện thoại di động cảm ứng, hiệu Black Berry màu đen trắng, có 01 sim số 0923.440.724 (tình trạng sim không hoạt động); 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh đen, không gắn pin, sim (tình trạng không hoạt động); 01 áo sơ mi bằng vải dài tay, sọc ca rô, màu vàng xanh, phía sau lưng có in hình và chữ Evisu; 01 quần Jean dài, màu đen, phía trong lưng quần có chữ Empira; 01 xe môtô nhãn hiệu Honda, loại Wave màu xanh, biển số 69B1-227.38. Bị cáo T khai số ma túy trên bị cáo có được là do bị cáo mua của người khác ở Cà Mau (nhưng không xác định được lai lịch, địa chỉ) bị cáo đem về nhằm mục đích bị cáo cất giữ để sử dụng. Trong quá trình điều tra không chứng minh được người bán ma túy cho bị cáo nên bị cáo phải chịu toàn bộ số ma túy mà bị cáo cất giữ khi bị bắt quả tang.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, cùng các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Theo kết luận giám định số 358/KL-KTHS ngày 14/11/2022 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh C kết luận: Tổng khối lượng 0,4862gam, loại Methamphetamine.
Như vậy, bịch nilon màu trắng có viền màu đỏ bóp kín miệng của bị cáo thu giữ bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng của bị cáo cất giữ là ma túy đá và chất ma túy này bị Nhà nước nghiêm cấm tàng trữ với mọi hình thức. Hành vi tàng trữ ma túy để nhằm mục đích sử dụng của bị cáo T đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời truy tố bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và nhân thân của bị cáo thấy rằng:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi, bị cáo nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với mọi hình thức là vi phạm pháp luật hình sự, xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, mục đích tàng trữ để sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân, do bị cáo đã từng sử dụng ma túy. Bản thân của bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 02 lần, bị cáo mới chấp hành xong nay lại phạm tội. Hành vi đó còn làm phát sinh thêm một số tệ nạn xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
Hiện nay tình hình tội phạm ma túy ở địa phương có chiều hướng gia tăng, diễn biến phức tạp vì tác hại của ma túy. Do đó, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện cải tạo trở thành một công dân tốt, có ích cho xã hội.
Tuy nhiên, tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015;
Xử lý vật chứng: Đối với 01 Phong bì được niêm phong số 358/KL-KTHS ngày 14/11/2022 của Phòng kỷ thuật hình sự - Công an tỉnh C. Xét thấy, đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 áo sơ mi bằng vải dài tay, sọc ca rô, màu vàng xanh, phía sau lưng có in hình và chữ Evisu; 01 quần Jean dài, màu đen, phía trong lưng quần có chữ E. Tại phiên tòa, bị cáo xác định không nhận lại, do không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu Huawel màu xanh, có 01 sim số 0948858379 (không còn hoạt động); 01 điện thoại di động cảm ứng, hiệu Black Berry màu đen trắng, có 01 sim số 0923.440.724 (tình trạng sim không hoạt động); 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh đen, không gắn pin, sim (tình trạng không hoạt động). Các điện thoại này bị cáo không dùng vào mục đích để mua ma túy. Tại phiên tòa bị cáo xin nhận lại nên trả lại cho bị cáo.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave màu xanh, biển số 69B1-227.38 xe này ông Ngô Hoài P thực hiện mua bán của ông Nguyễn Quang H nhưng chưa chuyển tên. Ông P không biết bị cáo mượn xe để đi mua ma túy nên trả lại cho ông P.
Đối với việc bị cáo khai nhận mua ma túy của người ở địa bàn Cà Mau nhưng không rõ nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tách ra tiếp tục điều tra xác minh nếu có căn cứ xử lý sau.
Đối với hành vi sử dụng tái phép chất ma túy của bị cáo T, Công an huyện T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là phù hợp.
Về án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo phải chịu theo Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi bổ sung năm 2017). 1. Tuyên bố bị cáo Chung Minh T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Xử phạt: Bị cáo C1 (Một) năm tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bắt tạm giữ, ngày 11/11/2022.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tuyên bố tịch thu tiêu hủy: 01 Phong bì được niêm phong số 358/KL-KTHS ngày 14/11/2022 của Phòng kỷ thuật hình sự - Công an tỉnh C; 01 áo sơ mi bằng vải dài tay, sọc ca rô, màu vàng xanh, phía sau lưng có in hình và chữ Evisu; 01 quần Jean dài, màu đen, phía trong lưng quần có chữ E.
Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu Huawel màu xanh, có 01 sim số 0948858379 (không còn hoạt động); 01 điện thoại di động cảm ứng, hiệu Black Berry màu đen trắng, có 01 sim số 0923.440.724 (tình trạng sim không hoạt động); 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh đen, không gắn pin, sim (tình trạng không hoạt động).
Trả lại cho anh Ngô Hoài P: xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave màu xanh, biển số 69B1-227.38
(Các vật chứng trên, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn T1 đang quản lý theo biên bản giao nhận ngày 30/01/2023).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Chung Minh T phải nộp số tiền án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (chưa nộp).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án này là sơ thẩm, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo luật định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau (1b); - VKSND huyện Trần Văn Thời (1b); - CAND huyện Trần Văn Thời (1b); - THADS huyện Trần Văn Thời (1b); - Bị cáo (1b); Người liên quan; (1b); - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Chí Công |