vanban.org

Bản án 11/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu Tuyên án 27/10/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn S phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đỗ Văn S 07 (Bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 08/6/2023. Về vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Văn Sơn - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn S phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”
  • Căn cứ chính? Điều 60 Bộ luật Hình sự; Điều 15 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 194 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THAN UYÊN
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:11/2023/HS-ST
Ngày: 27/10/2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lường Xuân Thu.

- Các hội thẩm nhân dân: Bà Vừ Thị Hoa; Ông Đinh Xuân Thủy.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Duy Thế - Thư ký Toà án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tham gia phiên toà: Ông La Văn Xôm - Kiểm sát viên.

Ngày 27/10/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2023/TLST-HS, ngày 13/10/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2023/QĐXXST-HS ngày 16/10/2023 đối với bị cáo:

Đỗ Văn S - Sinh ngày 27/11/1976 tại huyện Th U, tỉnh L Ch.

Nơi cư trú: Bản C Tr 2, xã M Th, huyện Th U, tỉnh L Ch; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đỗ Sơn H – sinh năm 1952 và bà: Đặng Thị Kh - sinh năm 1949; Gia đình có 2 anh, em bị cáo là con thứ hai; Bị cáo có vợ: Kiều Thị Th – sinh năm 1981 (đã ly hôn); Bị cáo có 01 con; Tiền án, tiền sự: Không.

Về nhân thân:

+ Tại bản án hình sự sơ thẩm số 27, ngày 25/11/2011 của Toà án nhân dân huyện Than Uyên xét xử áp dụng khoản 1, Điều 194; điểm p khoản 1, Điều 46; khoản 1, 2 Điều 60 Bộ luật hình sự, xử phạt Đỗ Văn S 30 tháng tù cho hưởng án treo về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; hiện đã được xoá án tích;

+ Tại bản án hình sự sơ thẩm số 91, ngày 26/8/2014 của Toà án nhân dân huyện Than Uyên xét xử áp dụng khoản 1, Điều 194; điểm p khoản 1, Điều 46; điểm g, khoản 1, Điều 48; Điều 20, 53 Bộ luật hình sự, xử phạt Đỗ Văn S 03 năm tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; hiện đã được xoá án tích;

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ hồi 17 giờ 30 phút, ngày 08/6/2023, tạm giam ngày 17/6/2023, hiện bị cáo đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Than Uyên.

(Có mặt)

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Đỗ Văn H – sinh năm 1975.

Trú tại: Tổ 1, Phường P H, thành phố L C, tỉnh L C.

(vắng mặt)

- Người làm chứng: 1. Hà Văn A – sinh năm 1993. Trú tại: Bản N Ph, xã Ph Th, huyện Th U, tỉnh L Ch.

2. Phan Văn Ph – sinh năm 1990.

Trú tại: Bản M, xã M Th, huyện Th U, tỉnh L Ch.

(đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ ngày 08/6/2023, Đỗ Văn S đi xe mô tô từ bản N Ph, xã Ph Th, huyện Than Uyên lên Bản N Th, xã Ph Th, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu, mục đích tìm mua Heroine sử dụng và bán. Đến khoảng 7 giờ 30 phút cùng ngày, tại bản N Th, Đỗ Văn S mua từ một người phụ nữ dân tộc Mông không rõ lai lịch 01 Heroine được gói bằng mảnh giấy màu xanh, với giá 200.000 đồng. Sau đó, Đỗ Văn S sử dụng hết một phần trong gói Heroine mua được. Số Heroine còn lại, S chia thành 02 gói nhỏ và gói lại bằng các mảnh giấy màu trắng, có chữ rồi mang về bản N Ph, xã Ph Th, huyện Than Uyên, cất giấu 02 gói Heroine cạnh tường nhà một người dân ở bản N Ph, xã Ph Th, huyện Than Uyên, mục đích nếu có ai hỏi mua thì bán. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, khi Đỗ Văn S đang ở bản N Ph, xã Ph Th, huyện Than Uyên thì có Hà Văn A, sinh năm 1993, trú tại bản N Ph, xã Ph Th, huyện Than Uyên và Phan Văn Ph, sinh năm 1990, trú tại bản M, xã M Th, huyện Than Uyên đến gặp Đỗ Văn S hỏi mua Heroine sử dụng. Ph và A mỗi người đưa cho S 100.000 đồng. Nhận tiền, S ra vị trí chỗ cất giấu 02 gói Heroine lấy ra, bán cho Ph và A mỗi người 01 gói Heroine. Mua được Heroine, Phan Văn Ph mang về bản S B, xã Ph Th huyện Than Uyên sử dụng thì bị Công an huyện Than Uyên phát hiện, lập biên bản vi phạm hành chính, thu giữ 01 mảnh giấy bạc và 01 bật lửa ga màu đỏ. Đối với Hà Văn A, đang cầm gói Heroine đi tìm nơi sử dụng thì bị Công an huyện Than Uyên phát hiện, bắt quả tang tại bản N Ph, xã Ph Th, huyện Than Uyên, thu giữ của Hà Văn A 01 gói Heroine được gói bằng mảnh giấy màu trắng, có chữ.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Than Uyên tiến hành giữ người và khám xét khẩn cấp nơi ở đối với Đỗ Văn S, thu giữ số tiền 552.000 đồng. Ngoài ra còn thu giữ của Đỗ Văn S 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại Sirius, màu sơn trắng – xám, biển kiểm soát: 24P4-8927, kèm theo 01 bảo hiểm xe mô tô số: AA24/2740081; 01 đăng ký xe mô tô số: 028519.

Tại bản kết luận giám định số 90, ngày 08/6/2023 của người giám định tư pháp theo vụ việc Công an huyện Than Uyên và kết luận giám định số 725 ngày 13/6/2023 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: Số chất bột màu trắng thu giữ của Hà Văn A có khối lượng 0,06 gam; là ma tuý, loại Heroine.

Tại bản kết luận giám định số 753 ngày 15/6/2023 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: số tiền 552.000 đồng thu giữ của Đỗ Văn S là tiền thật.

Đối với chiếc xe mô tô thu giữ của Đỗ Văn S, quá trình điều tra xác định: chiếc xe là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của Đỗ Văn H, sinh năm 1975, trú tại Tổ 1, phường P H, thành phố L C, tỉnh L C.

Vật chứng của vụ án gồm: 0,06 gam Heroine thu giữ của Hà Văn A đã gửi giám định hết. Còn lại: 01 bật lửa ga màu đỏ; 01 mảnh giấy bạc đã than hoá; 01 mảnh giấy màu trắng có chữ; 01 bì niêm phong ban đầu; số tiền 552.000 đồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại Sirius, màu sơn trắng – xám, biển kiểm soát: 24P4-8927, kèm theo 01 bảo hiểm xe mô tô số: AA24/2740081; 01 đăng ký xe mô tô số: 028519; hiện đang được lưu giữ, bảo quản theo quy định.

Tại bản cáo trạng số: 151/CT –VKS, ngày 13/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên đã truy tố bị cáo Đỗ Văn S về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát huyện Than Uyên trình bày lời luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố theo cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn S phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”

Về hình phạt: Đề nghị HĐXX Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b, c khoản 2; điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Văn S từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù.

Không áp dụng các hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy 01 bật lửa ga màu đỏ; 01 mảnh giấy bạc đã than hoá; 01 mảnh giấy màu trắng có chữ; 01 bì niêm phong ban đầu.

-Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng do bị cáo bán chất ma túy mà có. Trả lại cho bị cáo 352.000 đồng do không liên quan đến hành vi phạm tội.

- Trả lại cho ông Đỗ Văn H 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại Sirius, màu sơn trắng – xám, biển kiểm soát: 24P4-8927, kèm theo 01 bảo hiểm xe mô tô số: AA24/2740081; 01 đăng ký xe mô tô số: 028519.

Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23; Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Đỗ Văn S không có ý kiến tranh luận gì đối với quan điểm của vị đại diện Kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo được sớm trở về với gia đình, xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Than Uyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Căn cứ vào lời khai của bị cáo, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, người chứng kiến cùng các chứng cứ, tài liệu khác đã được thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Ngày 08/6/2023, tại Bản N Th, xã Ph Th, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu, Đỗ Văn S đã mua trái phép 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng từ một người không rõ lai lịch. Sau đó, S chia Heroine thành 02 gói nhỏ, mục đích để sử dụng và bán. Đến khoảng 11 giờ ngày 08/6/2023, tại bản N Ph, xã Ph Th, huyện Than Uyên, Đỗ Văn S đã cùng lúc bán trái phép 02 gói Heroine cho hai người là Hà Văn A và Phan Văn Ph lấy tổng số tiền 200.000 đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo Đỗ Văn S đã đủ yếu tố cấu thành tội: “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 – Bộ luật hình sự. Nội dung bản cáo trạng truy tố, căn cứ đề nghị củaViện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định.

Đánh giá tính chất, mức độ phạm tội: Bị cáo có đủ mọi điều kiện để biết rằng: Heroine là chất ma túy gây nghiện, hủy hoại sức khỏe con người và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác, nên Nhà nước nghiêm cấm và xử phạt nghiêm khắc đối với người nào có một trong những hành vi liên quan đến chất ma túy. Vì lợi nhuận từ việc mua bán chất ma túy đem lại, bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi bán trái phép Heroine cho các con nghiện khác lấy tổng số tiền 200.000đồng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, trực tiếp gây mầm họa, làm phát sinh người nghiện chất ma túy trên địa bàn. Nên cần phải xử lý thật nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo hai lần bị Tòa án nhân dân huyện Than Uyên kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nay đã được xóa án tích. Nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng mình thành người có ích mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, nên bị cáo phải chịu hình phạt nghiêm khắc hơn. Song quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đều thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội đã thực hiện. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần xét giảm phần nào khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định hình phạt bổ sung. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy gia đình bị cáo còn đang khó khăn, bị cáo không đảm nhiệm chức vụ nghề nghiệp gì, do đó Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng các hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án gồm: 01 bật lửa ga màu đỏ; 01 mảnh giấy bạc đã than hoá; 01 mảnh giấy màu trắng có chữ; 01 bì niêm phong ban đầu. Xét thấy số vật chứng này là vật không có giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền 552.000 đồng thu giữ của bị cáo, trong đó có 200.000 đồng do bị cáo bán chất ma túy mà có, nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Còn lại 352.000 đồng xét không liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần tuyên trả lại cho bị cáo.

Đối với Đỗ Văn H, đã cho Đỗ Văn S mượn 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại Sirius, màu sơn trắng – xám, biển kiểm soát: 24P4-8927, kèm theo 01 bảo hiểm xe mô tô số: AA24/2740081; 01 đăng ký xe mô tô số: 028519, sau đó S sử dụng xe làm phương tiện phạm tội và bị thu giữ. Quá trình điều tra xác định: khi cho Đỗ Văn S mượn xe mô tô, anh H không biết việc Sơn sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội. Nay anh đề nghị được lấy lại xe mô tô cùng giấy tờ xe là có căn cứ cần được chấp nhận.

Về nguồn gốc Heroine, bị cáo Đỗ Văn S khai do mua của người không rõ lai lịch nên không có căn cứ để điều tra xử lý. Đối với hành vi tàng trữ 0,06 gam Heroine của Hà Văn A, quá trình điều tra xác định A chưa có tiền án, tiền sự về các hành vi, tội danh liên quan đến ma túy. Do đó cơ quan điều tra Công an huyện Than Uyên ra quyết định xử phạt hành chính là đúng quy định pháp luật.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 47- Bộ luật hình sự; khoản 2 khoản 3 Điều 106; Điều 135;136; 331; 333 – Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23; Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn S phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”

2.Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đỗ Văn S 07 (Bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 08/6/2023.

3. Về vật chứng:

- Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 bật lửa ga màu đỏ; 01 mảnh giấy bạc đã than hoá; 01 mảnh giấy màu trắng có chữ; 01 bì niêm phong ban đầu.

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 200.000 đồng. Tuyên trả lại cho bị cáo Đỗ Văn S 352.000 đồng.

- Tuyên trả cho Đỗ Văn H 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại Sirius, màu sơn trắng – xám, biển kiểm soát: 24P4-8927, số khung RLCS5C6409Y149225, số máy 5C64-149233 kèm theo 01 bảo hiểm xe mô tô số: AA24/2740081; 01 đăng ký xe mô tô số: 028519.

(Tình trạng vật chứng như biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản giữa cơ quan CSĐT Công an huyện Than Uyên và Chi cục thi hành án dân sự huyện Than Uyên lập ngày 16 /10/2023).

4. Về án phí: Bị cáo Đỗ Văn S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết lên Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu./.

Cỡ chữ