- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2023/HS-ST Ngày: 16/01/2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thúy Quỳnh
Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hà Thị Lan
2. Bà Nguyễn Thị Xuyến
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thủy Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Như Hảo - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm, thụ lý số 164/2022/TLST-HS ngày 28 tháng 12 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 165/2022/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Văn T - Sinh năm 1996; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Xóm S, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hoá: 11/12; Con ông: Phạm Hữu Th; Con bà: Bùi Thị M; Vợ con: chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 16 ngày 24/01/2017 của Công an huyện Đại Từ, xử phạt 350.000 đồng về hành vi Đánh bạc
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/9/2022. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt)
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1978 (vắng mặt)
Trú tại: Thôn N, xã TS, huyện VY, tỉnh Bắc Giang.
* Người chứng kiến:
Ông Vũ Văn H, sinh năm 1967. (Vắng mặt)
Trú tại: Xóm TS, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 10 phút ngày 18/9/2022, tổ công tác Công an xã Tân Thái, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên tiến hành tuần tra kiểm soát tại khu vực xóm TS, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên phát hiện 01 nam thanh niên đang điều khiển xe mô tô BKS 98 E1 - 218.64 theo đường tỉnh lộ 270 có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác đã tiếp cận, yêu cầu nam thanh niên dừng xe để kiểm tra hành chính, phát hiện trong túi quần bên phải đang mặc có 01 túi nilon bên trong có cục bột màu trắng và khai nhận tên là Phạm Văn T (T khai nhận là ma túy loại Heroine, mua về sử dụng cho bản thân).
Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ vật chứng gồm: 01 túi nilon bên trong có chất bột màu trắng (Niêm phong vào phong bì ký hiệu A); 01 điện thoại di động Oppo màu đen; 01 xe mô tô nhãn hiệu BKS 20E1 - 218.64, đã qua sử dụng và chuyển toàn bộ hồ sơ, đối tượng cùng vật chứng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Đại Từ để giải quyết theo thẩm quyền.
Hồi 08 giờ 00 phút ngày 19/9/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên tiến hành khám xét khẩn cấp người, chỗ ở, địa điểm, phương tiện đối với Phạm Văn T. Kết quả khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Hồi 15 giờ 20 phút ngày 18/9/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên phối hợp với Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên đã tiến hành mở niêm phong và cân toàn bộ số chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A có khối lượng là: 0,454gam (đã niêm phong vào phong bì ký hiệu A1) gửi giám định theo quy định.
Tại kết luận giám định số 1474/KL-KTHS ngày 26/9/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng ban đầu là 0,454gam.
Tại cơ quan điều tra Phạm Văn T khai nhận như sau: Bản thân T là người nghiện ma túy, khoảng 11 giờ 30 phút ngày 18/9/2022, T một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu nhãn hiệu Honda Wave BKS: 98E1 - 218.64 (T mượn của anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1978, trú tại: Thôn N, xã TS, huyện VY, tỉnh Bắc Giang) đi từ nhà đến đường ngách gần nhà nghỉ NS thuộc thị trấn HS, huyện Đ, mục đích tìm mua ma túy loại Heroine về sử dụng cho bản thân. Tại đây, T gặp và hỏi mua Heroine của một người đàn ông không biết tên tuổi và địa chỉ, qua giao dịch T đã mua của người đàn ông trên 01 gói Heroine được gói bằng túi nilon màu trắng với giá 700.000đồng. T cầm gói Heroine cất vào túi quần bên phải đang mặc rồi điều khiển xe mô tô về nhà. Khi về đến khu vực xóm TS, xã T, huyện Đ thì gặp tổ công tác Công an xã Tân Thái yêu cầu dừng xe để kiểm tra phát hiện, thu giữ tại túi quần bên phải T đang mặc 01 túi nilon màu trắng bên trong có chất ma túy loại Heroine và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng như nêu trên.
Lời khai nhận của Phạm Văn T phù hợp với các tài liệu điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ, kết luận giám định.
Vật chứng của vụ án gồm:
- 01 phong bì niêm phong ký hiệu A1, bên trong là mẫu ma túy còn lại sau giám định và vỏ mẫu giám định;
- 01 phong bì niêm phong ký hiệu A2, bên trong là túi nilon màu trắng và vỏ phong bì niêm phong A;
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 98E1 - 218.64.
- 01 điện thoại di động OPPO màu đen.
Tại bản cáo trạng số 03/CT-VKSĐT, ngày 27/12/2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
Phần luận tội tại phiên tòa hôm nay, sau khi phân tích, đánh giá tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 24 tháng đến 30 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: Chất ma túy thu giữ của bị cáo và vỏ bao gói mẫu được niêm phong vào các phong bì kí hiệu A1, A2.
Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen.
Trả lại cho anh Nguyễn Văn D 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 98E1 - 218.64.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Bị cáo không tranh luận gì, chỉ xin Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về gia đình, xã hội trong lời nói sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Quá trình khởi tố vụ án, điều tra, truy tố và xét xử, điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng thực hiện trong vụ án đảm bảo hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.
. Căn cứ lời khai của bị cáo tại phiên tòa, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 12 giờ ngày 18/9/2022, tại khu vực xóm TS, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Phạm Văn T đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,454 gam chất ma túy loại Heroine mục đích sử dụng cho bản thân, thì bị Tổ công tác Công an xã Tân Thái, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên phát hiện bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng.
Với hành vi nêu trên, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Nội dung điều luật quy định như sau:
"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c. Heroine...có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
. Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng. Bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi và năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma túy, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy cần phải được xử lý bằng pháp luật hình sự, buộc bị cáo cách ly xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời răn đe, phòng chống tội phạm chung.
. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
Bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự, có nhân thân xấu, năm 2017 bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Bị cáo là đối tượng nghiện, không có tài sản gì nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.
. Vật chứng vụ án:
- Số ma túy còn lại sau giám định thu giữ của bị cáo được niêm phong kí hiệu A1, A2 không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 98E1 - 218.64, qua điều tra xác minh và tại phiên tòa xác định là của anh Nguyễn Văn D cho bị cáo mượn, khi bị cáo đi mua ma túy thì anh D không biết nên trả lại cho anh D quản lý sử dụng.
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen, qua điều tra xác minh và tại phiên tòa xác định là của bị cáo, không liên quan đến việc mua bán ma túy nên trả lại cho bị cáo.
. Bị cáo phải án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
. Về nguồn gốc Heroine, T khai mua của một người đàn ông tại khu vực thị trấn Hùng Sơn, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Do không xác định được lai lịch của người đàn ông này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có cơ sở để điều tra xử lý.
Liên quan đến chiếc xe mô tô BKS: 98E1 - 218.64, T sử dụng để đi mua ma túy là xe của anh Nguyễn Văn D (người quen của T), anh D không biết việc T sử dụng xe mô tô để đi mua ma túy, do đó Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với anh D.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Về hình phạt:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/9/2022.
- Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
- Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
2. Vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 02 phong bì niêm phong có ký hiệu lần lượt là A1, A2 còn nguyên tình trạng niêm phong.
- Trả lại cho anh Nguyễn Văn D 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α, màu xanh, BKS: 98E1 - 218.64.
- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/01/2023 giữa Công an huyện Đại Từ với Chi cục THADS huyện Đại Từ).
3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh TN; Sở tư pháp; - VKSND tỉnh TN; VKSND H. Đại Từ; - Công an H. Đại Từ; - Chi cục THADS H. Đại Từ; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Thúy Quỳnh |