vanban.org

Bản án 11/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 12/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Giang Công T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Giang Công T 42 ( Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 02/11/2022. * Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Giang Công T phải bồi thường cho bị hại là anh Nguyễn Đình Tr số tiền là 918.720.000đ (Chín trăm mười tám triệu, bảy trăm hai mươi nghìn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Giang Công T, phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Giang Công T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NHƯ XUÂN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2023/HS-ST
Ngày: 12-04-2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN - TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hằng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Kim Sơn

Ông Lê Cảnh Ái

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Dương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Như Xuân.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Kế Mạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 04 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Như Xuân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 06/2023/TLST-HS ngày 22 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2023/QĐXXST - HS ngày 10 tháng 03 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số 11 ngày 22 tháng 03 năm 2023, đối với bị cáo:

Giang Công T, sinh ngày 14/06/2001 tại huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ĐKNKTT: thôn B, xã Ph, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Chỗ ở hiện nay: thôn B, xã Ph, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Giang Văn C và bà Nguyễn Thị X; Vợ, con: chưa có; Tiền sự: Không; Tiền án: 00.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Như Xuân từ ngày 02/11/2022 cho đến nay. Có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

* Người bị hại:

Anh Nguyễn Đình Tr. Sinh năm: 1990

Địa chỉ: Số nhà H B, Nguyễn Cơ Th, Phường C D, Quận N T L, TP. Hà Nội.

* Người làm chứng:

1. Anh Giang Thiết S – Sinh năm: 1987.

Trú tại: thôn B, xã Ph, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.

2. Ông Giang Văn C – Sinh năm 1964.

Trú tại: thôn B, xã Ph, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.

3. Chị Hồ T U – Sinh năm 2000.

Trú tại: Số nhà H B, Nguyễn Cơ Th, Phường C D, Quận N T L, TP. Hà Nội.

Tại phiên tòa người bị hại anh Nguyễn Đình Tr có đơn xin xét xử vắng mặt. Người làm chứng là anh Giang Thiết S, ông Giang Văn C, Chị Hồ Tú U đều vắng mặt tại phiên tòa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 20 ngày 19/8/2022, Giang Công T (sinh năm 2001 ở thôn B, xã Ph, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa, có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 36H - 018.78 (có chứng nhận kiểm định đến ngày 23/5/2023) chở theo anh trai Giang Thiết S (sinh năm 1987) và bố đẻ Giang Văn C (sinh năm 1964) đều ở xã Xuân Phú, huyện Thọ Xuân đi từ nhà lên xã Hóa Quỳ và xã Thanh Phong, huyện Như Xuân để giao hàng hóa tạp hóa. Sau khi giao hàng ở xã Thanh Phong xong, T điều khiển xe ô tô quay ra đường Hồ Chí Minh lưu thông theo hướng Nghệ An đi thành phố Hà Nội. Đến khoảng 14 giờ 30 cùng ngày khi đi đến đoạn đường dốc Ba tầng thuộc thôn Luống Đồng, xã Hóa Quỳ, huyện Như Xuân, Giang Công T quan sát phía trước có xe ô tô tải biển kiểm soát tỉnh Nghệ An loại 3,6 tấn đang đi sang phần đường bên trái để vượt hai xe ô tô 04 chân loại xe "Hổ Vồ" đang đi trước. Thấy vậy, T cũng đánh lái sang phần đường bên trái (phần đường ngược chiều) để vượt theo sau. Khi xe ô tô tải biển kiểm soát tỉnh Nghệ An vượt qua được hai xe "Hổ Vồ" và chuyển sang phần đường bên phải thì xe ô tô con biển kiểm soát 30G - 956.33 do anh Nguyễn Đình Tr (sinh năm1990 ở Phường Cầu Diễn, Quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội) điều khiển đang lưu thông ở phần đường bên phải theo hướng thành phố Hà Nội đi Nghệ An đi đến. T liền nháy đèn, rà phanh rồi đánh lái sang phần đường bên phải theo hướng đi của T để tránh nhưng không kịp, nên phần sau bên trái thành xe của T đã va chạm với phần đầu xe ô tô của anh Tr. Sau va chạm, xe ô tô tải biển kiểm soát 36H - 018.78 đổ nghiêng bên phải và trượt đi một đoạn thì dừng lại và chắn ngang đường, còn xe ô tô con biển kiểm soát 30G - 956.33 đâm vào dãy tôn hộ lan bên phải theo hướng TP.Hà Nội đi Nghệ An. Sau tai nạn, những người ngồi trên hai xe ô tô không có ai bị thương tích. Sau đó, Giang Công T đến Công an huyện Như Xuân để trình diện và khai báo.

Sau khi sự việc xảy ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Như Xuân và Viện KSND huyện Như Xuân đã khám nghiệm hiện trường, phương tiện, kết quả như sau:

* Kết quả khám nghiệm hiện trường:

Hiện trường là mặt đường Hồ Chí Minh tại Km 606 + 114,4 thuộc địa phận thôn Luống Đồng, xã Hóa Quỳ, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Đoạn đường hơi dốc lên về hướng đi Hà Nội và cong cua. Mặt đường được trải nhựa phẳng, êm thuận. Chiều rộng lòng đường là 8,2 m, không có vạch kẻ đường. Phía Bắc của hiện trường tiếp giáp với núi; phía Nam của hiện trường tiếp giáp với vườn cây; Phía Đông của hiện trường là hướng đi TP. Hà Nội; Phía Tây của hiện trường là hướng đi tỉnh Nghệ An.

Lấy cột mốc Km H1/606 nằm ở bên phải theo hướng TP. Hà Nội đi tỉnh Nghệ An làm điểm mốc. Lấy mép đường bên phải theo hướng TP. Hà Nội đi tỉnh Nghệ An làm mép chuẩn. Cách điểm mốc 14,4 m về phía Nam phát hiện các vết tì trượt song song để lại lưu chất màu đen dạng cao su bám dính trên mặt đường. Vết được ký hiệu là (1) trên sơ đồ hiện trường. (1) có chiều hướng từ Tây sang Đông, (1) dài 15,3 m. Điểm gần mép chuẩn nhất cách 1,25 m, điểm xa mép chuẩn nhất cách 2,85 m. Khoảng cách gần nhất giữa các vết là 26 cm, khoảng cách xa nhất giữa các vết là 1,64 m. Cuối (1) vào mép chuẩn là 2,1 m.

Cách điểm mốc 3,2 m về hướng Đông Nam phát hiện chùm vết cà trượt để lại lưu chất màu đen dạng cao su bám dính trên mặt đường. Vết được ký hiệu là (2) trên sơ đồ hiện trường. Tâm đầu (2) vào mép chuẩn là 2,35 m, (2) dài 11,27 m, cuối (2) vào mép chuẩn trong diện: 5,2 m - 6 m. Cách tâm đầu (2) 9 m là tâm trục bánh trước của hình vẽ xe ô tô tải BKS: 36H - 018.78 bằng sơn màu trắng. Cách tâm đầu (2) 9,2m là tâm trục bánh sau của hình vẽ xe ô tô tải BKS: 36H - 018.78 bằng sơn màu trắng. Tâm trục bánh trước của hình vẽ xe ô tô tải vào mép chuẩn là 3,2 m, Tâm trục bánh sau của hình vẽ vào mép chuẩn là 5,8 m. Hình vẽ xe ô tô tải BKS: 36H - 018.78 dài 5,2 m, rộng 2,8 m.

Cách điểm mốc 8,3 m về hướng Đông là tâm trục bánh sau bên trái của xe ô tô tải BKS: 36H - 018.78, cách mép chuẩn 60 cm. Tâm trục bánh sau bên phải của xe ô tô tải vào mép chuẩn là 2,16 m. Cách điểm mốc 10,5 m là tâm trục bánh trước bên trái của xe ô tô tải, tâm trục bánh trước bên trái của xe ô tô tải cách mép chuẩn 66 cm.

Cách điểm mốc 2,8 m về hướng Đông Nam phát hiện một vết tì trượt để lại lưu chất màu đen dạng cao su bám dính trên mặt đường. Vết được ký hiệu là (3) trên sơ đồ hiện trường. Tâm đầu (3) vào mép chuẩn là 1,8 m, (3) dài 6,1 m. Cuối (3) trùng với trục bánh sau bên trái của xe ô tô BKS: 30G - 956.33. Cuối (3) vào mép chuẩn là 40cm. Tâm trục bánh trước bên trái ra mép chuẩn là 10 cm.

Cách điểm mốc 85 cm về hướng Tây phát hiện các vết cà trượt không liên tục làm cong vênh, bung bật các cọc định vị và thanh kim loại tôn hộ lan, làm bong tróc, bung bật kết cấu mặt đường nhựa. Vết được ký hiệu là (4) trên sơ đồ hiện trường. (4) dài 14,6 m, cuối (4) vào mép chuẩn là 3,4 m.

* Kết quả khám nghiệm phương tiện:

Kết quả khám xe ô tô BKS: 30G - 956.33 như sau: Góc trước bên trái đầu xe (cách thành xe bên trái 42 cm) có các vết cà trượt làm mòn sơn màu trắng, móp méo, cong vênh kim loại kích thước 155 cm x 93 cm, chiều hướng vết từ trước về sau, bề mặt vết bám dính chất màu trắng bạc (dạng sơn), màu đen (dạng cao su). Vết cao cách mặt đất 33 cm - 128 cm, vết làm bung bật, vỡ rời bên trái Ba-đờ-sốc trước, cụm đèn xi-nhan trước bên trái. Mặt và má ngoài, mặt ngoài la-răng lốp trước bên trái tương ứng hàng chữ "CONTINENTAL" có các vết tỳ trượt làm mòn rách cao su, kim loại kích thước 46cm x 16 cm, chiều hướng vết từ ngoài vào tâm, ngược chiều chuyển động tiến, bề mặt vết bám dính chất màu đen (dạng cao su), chất màu trắng (dạng kim loại). Hiện tại lốp trước bên trái bị hết hơi, xô lệch theo chiều từ phải qua trái. Góc trước bên phải đầu xe (cách thành xe bên phải 72 cm), mặt và má ngoài, cạnh la-răng lốp trước bên phải tương ứng hàng chữ "CONTINENTAL" có các vết cà trượt, tỳ trượt làm mòn sơn màu trắng, mòn rách cao su, kim loại kích thước 192 cm x 76 cm, chiều hướng vết từ trước về sau (tại góc trước bên phải đầu xe), ngược chiều chuyển động tiến, từ ngoài vào tâm (tại lốp và la-răng), bề mặt vết bám dính chất han gỉ màu nâu. Vết làm bung bật ốp nhựa phía dưới thành xe bên phải, cong vênh cạnh vành bánh trước bên phải theo chiều từ trái qua phải. Hiện tại lốp trước bên phải xẹp, hết hơi. Hiện tại túi khí bị bung bật.

Kết quả khám xe ô tô BKS: 36H - 018.78 như sau: Mặt ngoài thành xe bên trái (cách mặt trước Ba-đờ-sốc trước 295 cm) có vết cà trượt, tỳ trượt làm mòn sơn màu trắng bạc, móp méo, cong vênh kim loại kích thước 192 cm x 37 cm, chiều hướng từ trước về sau, bề mặt vết bám dính chất màu trắng (dạng sơn), chất màu đen (dạng cao su). Vết cao cách mặt đất 70 cm - 107 cm. Má ngoài, cạnh vành lốp sau bên trái tương ứng hàng chữ số "14PR" có vết tỳ trượt, cà trượt làm mòn cao su, kim loại kích thước 25 cm x 18,5 cm, vết có chiều từ ngoài vào tâm, ngược chiều chuyển động tiến. Vết làm cong vênh cạnh vành.

Tại bản Kết luận giám định số 3096/KL-KTHS ngày 13/9/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận:

"1. Điểm va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện: Góc trước bên trái đầu xe (cách thành xe bên trái 42 cm) xe ô tô BKS 30G - 956.33 (ảnh 4 đến 9) với mặt ngoài thành xe bên trái (cách mặt trước Ba-đờ-sốc trước 295 cm) xe ô tô BKS 36H - 018.78

2. Tại thời điểm xảy ra va chạm hai xe chuyển động ngược chiều.

3. Vị trí xảy ra va chạm giữa hai phương tiện nằm cuối các vết tỳ trượt (1) đến đầu chùm vết cà trượt số (2) được thể hiện trong biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường, thuộc phần đường bên phải hướng thành phố Hà Nội đi tỉnh Nghệ An.

4. Không đủ cơ sở xác định tốc độ của xe ô tô BKS 30G - 956.33 và xe ô tô BKS 36H - 018.78 tại thời điểm xảy ra va chạm.

5. Không phát hiện dấu vết va chạm giữa xe ô tô BKS 30G - 956.33; xe ô tô BKS 36H - 018.78 với phương tiện khác."

Tại bản kết luận số 30/KL-ĐGTS ngày 26/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Như Xuân định giá thiệt hại tài sản về phương tiện đối với vụ tai nạn nêu trên, theo đó tổng thiệt hại của xe ô tô biển kiểm soát 30G - 956.33 do vụ tai nạn nêu trên gây ra là 918.720.000đ (Chín trăm mười tám triệu, bảy trăm hai mươi nghìn đồng).

Sau khi xảy ra sự việc, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Như Xuân đã tổ chức đo nồng độ cồn của Giang Công T và test ma túy. Tại thời điểm kiểm tra, nồng độ cồn trong hơi thở của Giang Công T là 0,000 mg/l (không phẩy không không miligam trên một lít khí thở) và âm tính với ma túy.

* Về vật chứng của vụ án:

Đối với 01 (một) xe ô tô Biển đăng ký: 30G - 956.33; Nhãn hiệu: LANDROVER; Số loại: RANGE ROVER; Màu sơn: Trắng; Số khung: SALGA3VF8FA205653; Số máy: 306PSHFFKM14111622264306PS Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Như Xuân đã trả lại cho anh Nguyễn Đình Tr là chủ sở hữu hợp pháp của tài sản.

Đối với 01 (một) xe ô tô Biển đăng ký: 36H - 018.78; Nhãn hiệu: KIA; Số loại: FRONTIER; Màu sơn: Trắng; Số khung: RNHA39KHAMT039887; Số máy: MD534018D4CB Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Như Xuân đã trả lại cho ông Giang Văn C là bố đẻ của bị cáo Giang Công T được bị cáo T ủy quyền nhận lại tài sản.

Về trách nhiệm dân sự: Giang Công T chưa bồi thường thiệt hại về dân sự cho anh Nguyễn Đình Tr.

Bản cáo trạng số: 05/CT-VKSNX ngày 22/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân truy tố Giang Công T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm g khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Giang Công T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại phiên tòa người bị hại là anh Nguyễn Đình Tr có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và yêu cầu hội đồng xét xử xem xét buộc bị cáo Giang Công T phải bồi thường dân sự là toàn bộ số tiền thiệt hại tài sản cho anh Tr theo định giá là 918.720.000đ (Chín trăm mười tám triệu, bảy trăm hai mươi nghìn đồng). Đồng thời cũng đề nghị HĐXX xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo thống nhất với yêu cầu bồi thường về dân sự của anh Nguyễn Đình Tr về việc người bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường toàn bộ số tiền thiệt hại tài sản theo định giá là 918.720.000đ (Chín trăm mười tám triệu, bảy trăm hai mươi nghìn đồng). Nhưng hiện nay bị cáo đang bị tạm giam nên chưa có điều kiện về tài sản để bồi thường.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố, hành vi của bị cáo Giang Công T đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Giang Công T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 260; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Giang Công T với mức án từ 39 đến 45 tháng tù.

Buộc bị cáo phải bồi thường dân sự theo yêu cầu của người bị hại là toàn bộ số tiền thiệt hại theo định giá tài sản.

Đề nghị miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Ngoài ra, Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không bổ sung ý kiến bào chữa; Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không tranh luận gì.

Lời nói sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là sai, là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Như Xuân, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh:

Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 19/8/2022, tại đoạn đường dốc Ba tầng thuộc thôn Luống Đồng, xã Hóa Quỳ, huyện Như Xuân, Giang Công T điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 36H - 018.78 chuyển hướng sang phần đường ngược chiều, bám theo sau xe tải có biển kiểm soát tỉnh Nghệ An để vượt hai xe tải Hổ vồ đang đi phía trước, khi xe tải biển kiểm soát tỉnh Nghệ An vượt qua được hai xe „„Hổ Vồ‟‟ và chuyển sang phần đường bên phải thì xe ô tô của biển kiểm soát 30G - 956.33 do anh Nguyễn Đình Tr điều khiển đang lưu thông ở phần đường bên phải theo hướng thành phố Hà Nội đi Nghệ An đi đến; Giang Công T rà phanh, đánh lái sang phần đường bên phải theo hướng di chuyển để tránh nhưng không kịp dẫn đến hậu quả hai xe va chạm với nhau.

Kết quả Khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện và kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận điểm va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện là góc trước bên trái đầu xe (cách thành xe bên trái 42 cm) xe ô tô BKS 30G - 956.33 với mặt ngoài thành xe bên trái (cách mặt trước Ba-đờ-sốc trước 295 cm) xe ô tô BKS 36H - 018.78, tại thời điểm xảy ra va chạm hai xe chuyển động ngược chiều, vị trí xảy ra va chạm giữa hai phương tiện thuộc phần đường bên phải hướng thành phố Hà Nội đi tỉnh Nghệ An.

Bị cáo Giang Công T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân bị cáo tham gia giao thông điều khiển xe ô tô đi không đúng phần đường quy định, vượt xe tại nơi đường cong cua, khi chưa đảm bảo các điều kiện an toàn gây ra hậu quả thiệt hại rất nghiệm trọng về tài sản gây thiệt hại cho xe ô tô biển kiểm soát 30G - 956.33 của anh Nguyễn Đình Tr lên tới 918.720.000đ (Chín trăm mười tám triệu, bảy trăm hai mươi nghìn đồng) là trái quy định pháp luật. Do đó hành vi của Giang công T đã phạm vào tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” thuộc trường hợp: “ Gây thiệt haị về tài sản từ 500.000.000đ đến dưới 1.500.000.000đ” được quy định tại điểm g khoản 2, Điều 260 Bộ luật hình sự. Do đó quan điểm truy tố của Viện kiểm sát là hoàn toàn chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất của vụ án: Hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ của bị cáo Giang Công T là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ. Hành vi của Giang Công T đã phạm vào Khoản 1 Điều 9 và Khoản 2, Điểm c khoản 5 Điều 14 Luật giao thông đường bộ. Vì vậy, cần có đường lối xử lý nghiêm đối với bị cáo để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy rằng:

Về nhân thân: Giang Công T có nhân thân tốt, chưa có tiền sự, tiền án.

Về tình tiêt giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Vì vậy cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ Luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.

Về hình phạt:

Căn cứ vào tính chất mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội. Trên cơ sở xem xét về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của Giang Công T như đã nêu trên, khi quyết định hình phạt xét thấy việc cách ly xã hội đối với bị cáo một thời gian là cần thiết, nhưng cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, để bị cáo yên tâm cải tạo và sớm trở thành người công dân lương thiện.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại có đơn yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền thiệt hại theo định giá tài sản là 918.720.000đ (Chín trăm mười tám triệu, bảy trăm hai mươi nghìn đồng) và bị cáo thống nhất với yêu cầu của người bị hại. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của người bị hại buộc bị cáo phải bồi thường cho người bị hại số tiền là 918.720.000đ (Chín trăm mười tám triệu, bảy trăm hai mươi nghìn đồng).

Về vật chứng:

Đối với 01 (một) xe ô tô Biển đăng ký: 30G - 956.33; Nhãn hiệu: LANDROVER; Số loại: RANGE ROVER; Màu sơn: Trắng; Số khung: SALGA3VF8FA205653; Số máy: 306PSHFFKM14111622264306PS Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Như Xuân đã trả lại cho anh Nguyễn Đình Tr là chủ sở hữu hợp pháp của tài sản.

Đối với 01 (một) xe ô tô Biển đăng ký: 36H - 018.78; Nhãn hiệu: KIA; Số loại: FRONTIER; Màu sơn: Trắng; Số khung: RNHA39KHAMT039887; Số máy: MD534018D4CB. Hiện chiếc xe có đặc điểm như trên có giấy chứng nhận đăng ký phương tiện giao thông (bản chính) số 36 008608 Phòng CSGT – CA tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 24/05/2021 đang được thế chấp tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Như Xuân đã trả lại chiếc xe nói trên cho ông Giang Văn C là bố đẻ của bị cáo Giang Công T (Ông Cường được bị cáo T ủy quyền nhận hộ lại tài sản). Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Về Án phí: Bị cáo Giang Công T là người bị kết án nên buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo T phải bồi thường về dân sự cho anh Nguyễn Đình Tr số tiền 918.720.000đ (Chín trăm mười tám triệu, bảy trăm hai mươi nghìn đồng) nên bị cáo phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm g khoản 2 Điều 260; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự;

Căn cứ vào: Điểm b khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự; khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 586, 589, 351 và 357 của Bộ luật dân sự;

Căn cứ vào: Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6; các điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14; Điều 26 của Luật thi hành án dân sự.

Tuyên bố: Bị cáo Giang Công T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Giang Công T 42 ( Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 02/11/2022.

* Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Giang Công T phải bồi thường cho bị hại là anh Nguyễn Đình Tr số tiền là 918.720.000đ (Chín trăm mười tám triệu, bảy trăm hai mươi nghìn đồng).

Khi bản án có hiệu pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án đối với số tiền người phải thi hành án phải bồi thường, nếu người phải thi hành án không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ thì người phải thi hành án phải chịu lãi đối với số tiền chậm thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành án, theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

Án phí: Bị cáo Giang Công T phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 39.561.600đ (ba mươi chín triệu, năm trăm sáu mốt nghìn, sáu trăm) đồng tiền án phí Dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (12/04/2023). Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

Cỡ chữ