- Tranh chấp gì? án hình sự — "NGuyễn Thanh Liêm - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1]. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2023/HS-ST Ngày: 25/7/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Thanh Minh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thanh Vũ
2. Ông Kiều Công Trường
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Như – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Thạch Thiện – Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 12/2023/TLST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Thanh L, sinh năm 1973. Tên gọi khác: không. Nơi cư trú: Ấp H, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh.; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: lớp 11/12; Giới tính: nam; Dân tộc: kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1935 (chết) và bà Trần Thị N, sinh năm 1941 (chết). Bị cáo có vợ là Huỳnh Thị O, sinh năm 1977. Bị cáo có ba người con, lớn nhất sinh năm 1997 và nhỏ nhất sinh năm 2010.
Nhân thân: Từ năm 12 tuổi cho đến nay sống cùng gia đình tại ấp H, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Ngày 31/12/2022 điều khiển xe ô tô tải gây tai nạn làm chết một người trên Quốc lộ F thuộc ấp C, xã T, huyện M.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo Nguyễn Thanh L bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 24/02/2023 đến nay.
Bị cáo tại ngoại có mặt tại tòa.
- Người đại diện hợp pháp cho bị hại: Nguyễn Văn T, sinh năm 1967;
Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang (có đơn xin vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Trần Vỉ C, sinh năm 1974;
Nơi cư trú: số D, khóm A, phường F, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (có mặt).
- Người làm chứng: Trần Văn K, sinh năm 1974; Nơi cư trú: số D, khóm E, phường G, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thanh L, sinh năm 1973, cư trú: ấp H, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh làm nghề lái xe. Vào khoảng 05 giờ 38 phút ngày 31/12/2022 Nguyễn Thanh L điều khiển xe ô tô tải biển số 84C-040.12 trên Quốc lộ F theo hướng từ huyện M đi thành phố B. Khi đến khu vực ấp C, xã T, huyện M do thiếu quan sát ở phía trước nên xe của L điều khiển va chạm với anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1994, cư trú: ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang đang đứng vị trí giữa lộ để chờ sang đường, làm anh P tử vong tại chỗ.
Khám nghiệm hiện trường
Nơi xảy ra vụ tai nạn là đoạn đường Quốc lộ 60 có dạng đường thẳng, mặt đường được trải nhựa tương đối bằng phẳng, rộng là 11m, ở giữa mặt đường có vạch sơn màu vàng đứt nét chia mặt đường thành hai phần bằng nhau, mỗi phần rộng 5,5m dành cho hai chiều xe chạy. Hiện trường nằm trong khu vực có biển báo nguy hiểm “Biển giao nhau với đường không ưu tiên” số 207a. Đoạn đường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông không có biển báo “Đường người đi bộ cắt ngang”, không có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ qua đường. Theo hướng từ huyện M đi thành phố B thì hướng Bắc là hướng thành phố B, hướng N1 là hướng huyện M, hướng Tây là dãy nhà dân nằm ở mép đường bên trái, hướng Đông là dãy nhà dân nằm ở mép đường bên phải. Chọn hướng khám nghiệm hiện trường là hướng huyện M đi thành phố B (hướng N - B). Đoạn đường có tầm nhìn thông thoáng, không bị che khuất.
Chọn số thứ tự từ 1 đến 7 để đánh dấu vị trí dấu vết, nạn nhân, phương
tiện:
1. Vùng mảnh vỡ có kích thước là 1,7m x 01m.
2. Vết ma sát 1 có kích thước là 1,25m x 0,08m.
3. Vết ma sát 2 có kích thước là 2,3m x 0,08m.
4. Vết ma sát 3 có kích thước là 1,35m x 0,08m.
5. Vết ma sát 4 có kích thước là 4,25m x 0,15m.
6. Nạn nhân.
7. Xe ô tô tải biển số 84C-040.12.
Chọn trụ biển báo nguy hiểm “Giao nhau với đường không ưu tiên” biển số 207a nằm mép đường bên phải theo hướng khám nghiệm trước hiện trường tai nạn làm điểm mốc cố định.
Chọn vạch sơn màu vàng đứt nét ở giữa mặt đường, chia mặt đường làm hai phần bằng nhau làm đường chuẩn. Chọn phương pháp khám nghiệm theo cách cuốn chiếu.
1. Vùng mảnh vỡ có kích thước là 1,7m x 01m nằm trên mặt đường nhựa, bên trong vùng mảnh vỡ có các mảnh nhựa màu trắng và các mãnh nhựa màu đen. T1 vùng mảnh vỡ cách đường chuẩn là 0,2m nằm ở phần đường bên phải theo hướng khám nghiệm, cách trụ biển báo nguy hiểm số 207a là 67,4m.
2. Vết ma sát 1 có kích thước là 1,25m x 0,08m nằm trên mặt đường nhựa, ở phần đường bên phải theo hướng khám nghiệm. Điểm đầu vết ma sát 1 cách đường chuẩn là 0,55m, cách tâm vùng mảnh vỡ là 4,3m. Điểm cuối vết ma sát 1 cách đường chuẩn là 0,7m.
3. Vết ma sát 2 có kích thước là 2,3m x 0,08m nằm trên mặt đường nhựa, ở phần đường bên phải theo hướng khám nghiệm. Điểm đầu vết ma sát 2 cách đường chuẩn là 0,8m, cách điểm cuối vết ma sát 1 là 0,8m. Điểm cuối vết ma sát 2 cách đường chuẩn là 0,8m.
4. Vết ma sát 3 có kích thước là 1,35m x 0,08m nằm trên mặt đường nhựa, ở phần đường bên phải theo hướng khám nghiệm. Điểm đầu vết ma sát 3 cách đường chuẩn là 0,6m, cách điểm cuối vết ma sát 2 là 1,25m. Điểm cuối vết ma sát 3 cách đường chuẩn là 0,7m.
5. Vết ma sát 4 có kích thước là 4,25m x 0,15m nằm trên mặt đường nhựa, ở phần đường bên phải theo hướng khám nghiệm. Điểm đầu vết ma sát 4 cách đường chuẩn là 0,2m, cách điểm cuối vết ma sát 3 là 1,2m. Điểm cuối vết ma sát 4 cách đường chuẩn là 0,55m.
6. Nạn nhân tại hiện trường ở tư thế nằm ngửa trên mặt đường nhựa, đầu nạn nhân hướng về mép đường bên trái, hai chân hướng mép đường bên phải theo hướng khám nghiệm. Nạn nhân mặc quần dài màu xanh, mặc áo thun ngắn tay màu xám. Đỉnh đầu nằm ở phần đường bên trái theo hướng khám nghiệm cách đường chuẩn là 0,1m, cách điểm cuối vết ma sát 4 là 1,7m. Mũi bàn chân phải nằm ở phần đường bên phải theo hướng khám nghiệm cách đường chuẩn là 1,3m, cách điểm cuối vết ma sát 4 là 01m.
7. Xe ô tô tải biển số 84C-040.12 tại hiện trường ở trạng thái dừng, bốn bánh xe tiếp xúc với mặt đường nhựa ở phần đường bên phải theo hướng khám nghiệm, đầu xe quay về hướng B, đuôi xe quay về hướng N. Bánh xe sau bên trái cách đường chuẩn là 0,45m, cách đỉnh đầu nạn nhân là 17,2m, cách điểm cuối vết ma sát 4 là 18,85m. Bánh xe sau bên phải cách đường chuẩn là 1,75m. Bánh xe trước bên trái cách đường chuẩn là 0,4m.
Khám nghiệm phương tiện xe ô tô tải biển số 84C-040.12:
- Dấu vết trên phương tiện:
+ Gương chắn gió phía trước bên trái bị bể, vỡ một vùng có kích thước là 70cm x 65cm, điểm thấp nhất cách mặt đất là 98cm.
+ Cần gạt mưa kính chắn gió phía trước bên trái bị gãy rơi mất, cách mặt đất là 105cm.
+ Nắp ca bô phía trước bên trái xe có vùng thụng, móp có kích thước là 30cm x 12cm, điểm thấp nhất cách mặt đất là 90cm.
+ Đèn chiếu sáng phía trước bên trái xe bị vỡ, bể có kích thước là 23cm x 14cm, điểm thấp nhất cách đất là 75cm.
+ Cụm đèn sương mù, đèn chuyển hướng phía trước bên trái xe bị bung rời khỏi vị trí ban đầu, cách mặt đất là 50cm.
+ Gương chiếu hậu bên trái xe bị gãy rơi mất, cách mặt đất là 118cm.
+ Pô xe bị gãy rơi khỏi vị trí ban đầu, có dấu vết mài mòn kích thước là 10cm x 0,5cm ở cuối pô xe.
- Kỹ thuật an toàn phương tiện: Hệ thống lái hoạt động; hệ thống phanh chính, phanh phụ hoạt động.
Vật chứng: 01 xe ô tô tải biển số 84C-040.12 (đã qua sử dụng, không kiểm tra kỹ thuật), thuộc sở hữu của anh Trần Vỉ C (đã trả).
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 241/TT ngày 05/01/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: Nạn nhân Nguyễn Văn P chết do đa chấn thương.
Tại Biên bản về việc kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở lúc 07 giờ 12 phút ngày 31/12/2022 thì Nguyễn Thanh L không có nồng độ cồn.
Tại Kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu ngày 31/12/2022 của Nguyễn Văn P là 05mg/100ml.
Nguyễn Thanh L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với các chứng cứ đã thu thập được.
Quá trình điều tra, Nguyễn Thanh L đã bồi thường cho đại diện hợp pháp bị hại ông Nguyễn Văn T số tiền 125.000.000 đồng, ông T không có yêu cầu bồi thường gì khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần Vỉ C đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự.
Tại Cáo trạng số: 13/CT-VKS ngày 12/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: giữ nguyên quan điểm cáo trạng đã truy tố và đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh L từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo từ 02 (hai) năm đến 03 (ba) năm.
Đại diện gia đình bị hại có đơn yêu cầu đề nghị miễn trách nhiệm hình sự; bị cáo là lao động chính và mới phạm tội lần đầu nên xét thấy chưa cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đề nghị Tòa ghi nhận: trong quá trình điều tra cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã giao trả cho chủ sở hữu là anh Trần Vỉ C 01 xe ô tô tải biển số 84C-040.12.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Thanh L đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại tổng số tiền 125.000.000 đồng, đại diện hợp pháp cho bị hại ông Nguyễn Văn T đã nhận đủ tiền và không yêu cầu gì thêm về dân sự; anh Trần Vỉ C đã nhận lại xe ô tô tải biển số 84C-040.12 và không yêu cầu gì thêm về dân sự nên đề nghị Tòa không xem xét.
Tại Tòa bị cáo Nguyễn Thanh L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện giống như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo; thừa nhận hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật nên không có ý kiến tranh luận với quan điểm của Viện kiểm sát nhưng có yêu cầu xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Người đại diện hợp pháp cho bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường về dân sự; và có đơn yêu cầu Tòa án miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Tại phiên tòa sơ thẩm người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Vỉ C trình bày: không có yêu cầu gì.
Bị cáo Nguyễn Thanh L nói lời sau cùng: bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thanh L thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo; lời khai nhận tội của bị cáo là hoàn toàn phù hợp với lời khai nhận của bị cáo trong quá trình điều tra; phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp cho bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng; phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi, biên bản khám nghiệm xe ôtô và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do không tuân thủ quy định của Luật Giao thông đường bộ, vào khoảng 05 giờ 38 phút ngày 31/12/2022 trên Quốc lộ F thuộc ấp C, xã T, huyện M, Nguyễn Thanh L (đã có giấy phép lái xe hạng B2 theo quy định) điều khiển xe ô tô tải biển số 84C-040.12 do không chú ý quan sát phía trước va chạm với anh Nguyễn Văn P (đang đứng vị trí giữa lộ để chờ sang đường), làm anh P tử vong tại chỗ. Hành vi của L đã vi phạm quy định tại điểm e khoản 3 Điều 30 Luật Giao thông đường bộ và điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Vì vậy, Cáo trạng số: 13/CT-VKS ngày 12/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc truy tố bị cáo Nguyễn Thanh L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định:
1."Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a. Làm chết người.
….”
Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thanh L là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông công cộng, làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội và gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân khi tham gia giao thông. Hơn nữa, đã để lại hậu quả nặng nề, gây mất mát đau thương cho gia đình nạn nhân mà không gì bù đắp được. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên phải gánh chịu trách nhiệm hình sự đối với hậu quả do hành vi của bị cáo đã trực tiếp gây ra. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện để cải tạo giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung cho cộng đồng. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét một cách toàn diện về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Thanh L không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo Nguyễn Thanh L là người có nhân thân tốt thể hiện ở việc bị cáo không có tiền án, tiền sự; sau sự việc xảy ra khi bị cáo biết bị hại tử vong đã tự nguyên bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do đó, bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Căn cứ vào tính chất, mức độ hậu quả do hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo Nguyễn Thanh L là người có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đồng thời xét thấy bị cáo Nguyễn Thanh L có nơi cư trú rõ ràng, ổn định. Vì vậy bị cáo có đủ các điều kiện áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, không cần thiết cách ly bị cáo khỏi xã hội, nhưng để có thời gian cải tạo, giáo dục các bị cáo thành công dân có ích cho xã hội và đảm bảo được tính răn đe, phòng ngừa chung cho cộng đồng cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo, giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục bị cáo trong suốt thời gian chấp hành thử thách.
Xét thấy sau khi vi phạm, bị cáo luôn tỏ rõ sự ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo, kịp thời khắc phục thiệt hại về vật chất và tinh thần cho gia đình bị hại và được gia đình bị hại có đơn yêu cầu đề nghị miễn trách nhiệm hình sự; bị cáo mới phạm tội lần đầu nên xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 ghi nhận: trong quá trình điều tra cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã giao trả cho chủ sở hữu là anh Trần Vỉ C 01 xe ô tô tải biển số 84C-040.12.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Thanh L đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại tổng số tiền 125.000.000 đồng, đại diện hợp pháp cho bị hại ông Nguyễn Văn T đã nhận đủ tiền và không yêu cầu gì thêm về dân sự; anh Trần Vỉ C đã nhận lại xe ô tô tải biển số 84C-040.12 và không yêu cầu gì thêm về dân sự nên Tòa không xem xét.
Quan điểm của Kiểm sát viên phát biểu tại tòa phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo Nguyễn Thanh L phải nộp theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí của Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh L 01 (một) năm tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách đối với bị cáo là 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 25/7/2023.
Giao bị cáo Nguyễn Thanh L cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh là nơi bị cáo Nguyễn Thanh L cư trú giám sát giáo dục bị cáo trong suốt thời gian chấp hành thử thách.
Trường hợp trong thời gian thử thách nếu bị cáo có thay đổi nơi cư trú thì thủ tục chuyển giao hồ sơ thi hành án thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự và cũng trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[2]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 ghi nhận: trong quá trình điều tra cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã giao trả cho chủ sở hữu là anh Trần Vỉ C 01 xe ô tô tải biển số 84C-040.12.
[3]. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Thanh L đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại tổng số tiền 125.000.000 đồng, đại diện hợp pháp cho bị hại ông Nguyễn Văn T đã nhận đủ tiền và không yêu cầu gì thêm về dân sự; anh Trần Vỉ C đã nhận lại xe ô tô tải biển số 84C-040.12 và không yêu cầu gì thêm về dân sự nên không xem xét giải quyết.
[4]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí của Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Thanh L phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn mười lăm ngày tính từ ngày tuyên án sơ thẩm bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm. Đối với người vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo được tính từ khi nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Mỏ cày Bắc; - VKSND tỉnh Bến Tre; - Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre; - Chi cục THADS huyện Mỏ cày Bắc; - Sở tư pháp tỉnh Bến Tre; - Công an huyện Mỏ cày Bắc; - Bị cáo; - Bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Cao Thanh Minh |