vanban.org

Bản án 11/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 27/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn V 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 30/11/2022). Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,3375g ma túy, loại Hêrôin; 01 bơm kim tiêm đã … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn V - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG NĂNG
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2023/HS-ST
Ngày: 27/3/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NĂNG, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Ngọc.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Hồng

2. Ông Trần Hữu Nghị.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hòa - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Năng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 11/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Văn V.

Sinh ngày: 21/10/1995, tại Đăk Lăk.

Nơi cư trú: Thôn E, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Nùng; Con ông Hoàng Văn N (sinh 1956), con bà Lục Thị Í (sinh 1959); Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/11/2022 cho đến nay - Có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng:

- Anh La Mạnh T, sinh 1980 (Vắng mặt);

- Anh Hoàng Văn D, sinh 1974 (Vắng mặt);

- Anh Trương Quốc H, sinh 1991 (Vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Thôn E, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào trưa ngày 30/11/2022 sau khi được anh La Mạnh T rủ đi chơi. Hoàng Văn V điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 47L8 – 4266 của anh T chở anh T đi ra huyện Krông Búk. Khi đến quán nước thuộc thôn E, xã C, huyện Krông Búk thì anh T vào quán nước ngồi chờ. V điều khiển xe mô tô của anh T đi đến khu vực nhà thờ xã C, huyện Krông Búk. Tại đây V gặp người đàn ông và dùng 1.000.000đ mượn của anh T để hỏi mua ma túy và được người đàn ông đưa cho 01 gói giấy bạc màu trắng và 01 đoạn ống hút nhựa màu vàng bịt kín hai đầu bên trong chứa chất rắn màu trắng. Sau khi mua được ma túy, V điều khiển xe đi đến vườn cà phê gần đó lấy ra một ít chất bột màu trắng từ gói giấy bạc ra để sử dụng. Sau đó điều khiển xe ra quán nước đón anh T về lại xã E, huyện K. Khi đi đến đoạn đường thuộc thôn E, xã E thì bị lực lượng công an huyện K kiểm tra, phát hiện và thu giữ gói giấy bạc màu trắng và đoạn ống hút nhựa màu vàng ở bên lề đường cùng số tiền 70.000đ trên người của Hoàng Văn V.

Tại kết luận giám định số 1210/KL - KTHS ngày 08/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đăk Lăk, kết luận: Chất rắn màu trắng chứa trong 01 gói giấy bạc màu trắng và 01 đoạn ống nhựa màu vàng hàn kín hai đầu được niêm phong giám định ma túy, có khối lượng 0,3909gam, loại Hêrôin.

Vật chứng vụ án đã thu giữ: 01 gói giấy bạc có 0,3909 gam, loại Hêrôin; 01 bơm kim tiêm; số tiền 70.000đ; 01 xe mô tô BKS 47L8 – 4266, số máy 52FMHA600089, số khung H3MP5A000305.

Bản cáo trạng số 11/CT-VKS ngày 27 tháng 02 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Đắk Lắk truy tố bị cáo Hoàng Văn V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Kết quả xét hỏi tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Văn V khai nhận về hành vi của mình phù hợp như nội dung kết luận điều tra và bản cáo trạng đã truy tố bị cáo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn V mức hình phạt từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46; khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 0,3375 gam ma túy, loại Hêrôin còn lại sau giám định; 01 bơm kim tiêm không còn giá trị sử dụng.

Tiếp tục tạm giữ số tiền 70.000đ để đảm bảo thi hành án.

Công nhận cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Năng đã trả lại chiếc xe mô tô BKS 47L8 – 4266, số máy 52FMHA600089, số khung H3MP5A000305 cho anh La Mạnh T là chủ sở hữu hợp pháp.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận về tội danh và mức hình phạt, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện K và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo Hoàng Văn V tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Xét hành vi của bị cáo tàng trữ khối lượng 0,3909g ma túy, loại Hêrôin nhằm mục đích sử dụng là phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroin………. có khối lượng từ 0,1gam đến dưới 05gam;’’

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo thực hiện hành vi khi có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo có đầy đủ nhận thức để biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật và đã xâm phạm đến chế độ quản lý chất cấm của Nhà nước. Nhưng do ý thức coi thường pháp luật, bị cáo đã tàng trữ 0,3909g ma túy, loại Hêrôin nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Vì vậy, thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định.

Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự và là người dân tộc thiểu số. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được qui định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 52 Bộ luật hình sự nên cần áp dụng cho bị cáo trong quá trình lượng hình.

Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Với tính chất hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự nêu trên. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật nên cần chấp nhận.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46; Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu, tiêu hủy 0,3375g ma túy, loại Hêrôin còn lại sau giám định và 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng.

Đối với số tiền 70.000đ đã thu giữ của bị cáo cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Công nhận Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô biển số 47L8 -4266 cho anh La Mạnh T nhận sử dụng.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho Hoàng Văn V. Hiện Cơ quan điều tra chưa xác minh được nhân thân nên đã tách ra khi nào xác minh được thì xử lý sau là phù hợp với qui định của pháp luật.

Đối với anh La Mạnh T là người cho Hoàng Văn V mượn tiền và xe mô tô nhưng không biết V dùng tiền, xe mô tô để mua ma túy. Vì vậy Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1.Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn V 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 30/11/2022).

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,3375g ma túy, loại Hêrôin; 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng.

(Đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện K với Chi cục thi hành án dân sự huyên K, tỉnh Đăk Lăk ngày 27/02/2023).

Tiếp tục tạm giữ số tiền 70.000đ để đảm bảo thi hành án, theo biên lai thu số 0001478 ngày 28/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện K, tỉnh Đăk Lăk.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Áp dụng khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Hoàng Văn V phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ