vanban.org

Bản án 11/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 14/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lương Văn T phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Lương VănT 24 (hai mươi tư) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 29/12/2022. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lương Văn T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lương Văn T phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐH
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2023/HS - ST
Ngày 14/3/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH HOÁ, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hồng Khánh.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Triệu Thị Tình;

2. Bà Nguyễn Thị Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thành Huế – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Đinh Ngọc Vĩnh - Kiểm sát viên.

Ngày 14/3/2023, tại điểm cầu Trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện ĐH, tỉnh Thái Nguyên và điểm cầu Thành phần nhà giữ Công anh huyện ĐH xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2023/HSST ngày 14 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2023/QĐXXST-HS ngày 01/3/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lương Văn T (Không có tên gọi khác).

Sinh ngày 28/02/1991 tại huyện ĐH, tỉnh Thái Nguyên

Nơi cư trú: Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Xóm CL, xã BC, huyện ĐH, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: Lớp 10/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn Hùng và con bà Ma Thị Thì; vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/12/2022 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện ĐH, tỉnh Thái Nguyên.

(Có mặt)

* Người chứng kiến:

1. Anh Ma Văn Huân, sinh năm: 1987. Địa chỉ: Xóm CL, xã BC, huyện ĐH, tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt).

2. Ông Đào Văn Sơn, sinh năm 1968. Địa chỉ: Xóm CL, xã BC, huyện ĐH, tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 08 giờ 00 phút ngày 29/12/2022, tổ công tác Công an xã BC, huyện ĐH, tỉnh Thái Nguyên tuần tra kiểm soát tại khu vực ngã tư xã BC, huyện ĐH, tỉnh Thái Nguyên thì phát hiện Lương Văn T có biểu hiện liên quan đến tội phạm ma túy nên đã mời người đến chứng kiến việc kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra T tự giác lấy từ trong túi quần phía trước bên phải đang mặc 01 gói nhỏ được bọc bằng giấy màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng, T khai đó là ma túy, loại heroine, T mua về để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong 01 gói chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A1 và giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Định Hoá giải quyết theo thẩm quyền.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện ĐH tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của T, không phát hiện, thu giữ được gì liên quan đến tội phạm.

Mở niêm phong, cân xác định trọng lượng 01 gói chất bột màu trằng thu giữ trên người của T có trọng lượng 0,192g (không phẩy một chín hai gam), niêm phong lại ký hiệu A2.

Tại Bản kết luận giám định số 158/KL-KTHS ngày 06/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Mẫu chất màu trắng thu giữ của Lương Văn T niêm phong trong phong bì kí hiệu A2 gửi giám định là chất ma túy; loại Heroine, có khối lượng ban đầu là: 0,192g (không phẩy một chín hai gam).

Hoàn lại đối tượng giám định theo biên bản đóng gói niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định là 0,179g (không phẩy một bảy chín gam) và vỏ bao gói mẫu được niêm phong trong bì ký hiệu A2.

Quá trình điều tra T khai nhận. Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 29/12/2022, T đi bộ từ nhà thuộc xóm CL, xã BC, huyện ĐH đến xã Trung Hội, huyện ĐH để tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Khi đến khu vực cổng chợ Quán Vuông thuộc xã Trung Hội, huyện ĐH, T thấy một người đàn ông lạ mặt, đeo khẩu trang (T không biết rõ tên, tuổi địa chỉ cụ thể), T đến gần chỗ người đàn ông và hỏi có ma túy bán không thì được người đàn ông đó bảo có, mua bao nhiêu? T lấy ra 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) đưa cho người đàn ông, người đàn ông cầm tiền và đưa lại cho T 01 gói nhỏ được gói bằng giấy màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng, T biết đó là ma túy. T cầm gói ma túy cất vào trong túi quần bên phải phía trước mà T đang mặc rồi đi bộ về nhà. Khoảng 08 giờ 00 phút cùng ngày, khi T đi bộ đến ngã tư xã BC thuộc xóm CL, xã BC, huyện ĐH thì bị bắt quả tang và bị thu giữ vật chứng như đã nêu ở trên

Cáo trạng số 08/CT - VKS ngày 14/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo ra xét xử về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Lương Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu.

Tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích tính chất, nội dung, hành vi phạm tội, hậu quả và tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lương Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Xử phạt bị cáo Lương Văn T từ 24 (hai mươi tư) tháng tù đến 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong kí hiệu A2 bên trong có 0,179g (Không phẩy một bảy chín gam) ma túy, loại Heroine và vỏ bao gói còn lại sau giám định; 01 bì niêm phong ký hiệu là A3 bên trong là vỏ phong bì niêm phong vật chứng và 01 mảnh giấy màu trắng khi bắt quả tang của Lương Văn T.

Áp dụng Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí cho bị cáo.

Phần tranh luận, đối đáp: Bị cáo không có tranh luận, bào chữa gì.

Lời nói sau cùng: Bị cáo đã biết hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và đều hợp pháp.

. Về sự vắng mặt của người chứng kiến ông Sơn và anh Huân: Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia tố tụng nhưng người chứng kiến vẫn vắng mặt. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về sự vắng mặt của họ, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐH đề nghị xét xử vắng người chứng kiến. Quá trình điều tra, ông Sơn và anh Huân không có khiếu nại gì đối với quyết định, hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng liên quan đến việc mình tham gia nên việc vắng mặt của ông Sơn và anh Huân tại phiên tòa không gây trở ngại cho việc xét xử, không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người chứng kiến theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự.

. Về tội danh và điều luật áp dụng:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người chứng kiến về thời gian, địa điểm, vị trí, về số Heroine bị cáo đang tàng trữ bị thu giữ. Phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác Cơ quan điều tra đã thu thập được khách quan có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ kết luận:

Do nghiện ma túy và với mục đích mua ma túy để sử dụng cho bản thân nên khoảng 07 giờ 00 phút ngày 29/12/2022, T đã đi bộ đến khu vực chợ Quán Vuông thuộc xã Trung Hội huyện ĐH gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói nhỏ được gói bằng giấy màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng là ma túy, loại heroine. Sau khi mua được ma túy, Bị cáo cất vào túi quần bên phải phía trước đang mặc và đi bộ về nhà, khi đi đến khu vực xóm CL, xã BC, huyện ĐH, T bị tổ công tác của Công an xã BC yêu cầu kiểm tra hành chính, T đã tự giác giao nộp cho tổ công tác 01 gói nhỏ được gói bằng giấy màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng. Tổ công đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng, niêm phong 01 (một) gói chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A1.

Cân xác định trọng lượng 01 gói chất bột màu trằng thu giữ trên người bị cáo có trọng lượng 0,192g (không phẩy một chín hai gam), niêm phong trong phong bì ký hiệu A2.

Tại Bản kết luận giám định số 158/KL-KTHS ngày 06/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Mẫu chất màu trắng thu giữ của Lương Văn T niêm phong trong phong bì kí hiệu A2 gửi giám định là chất ma túy; loại Heroine, có khối lượng là: 0,192g (không phẩy một chín hai gam).

Hoàn lại đối tượng giám định theo biên bản đóng gói niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định là 0,179g (không phẩy một bảy chín gam) và vỏ bao gói mẫu được niêm phong trong bì ký hiệu A2.

Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi đã thực hiện như lời khai trong quá trình điều tra và các tài liệu chúng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Hành vi nêu trên của bị cáo T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

…

c) Heroine ...có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05gam”

Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn ở trên và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

. Xét tính chất, hậu quả hành vi của bị cáo thấy rằng:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng chất ma tuý. Hành vi của bị cáo hủy hoại sức khỏe của bản thân, vi phạm pháp luật, thực hiện với lỗi cố ý, cần được xử lý nghiêm minh.

. Xét nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy:

Bị cáo là người nghiện ma túy. Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, sau khi đánh giá toàn diện về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly ra khỏi đời sống chung trong xã hội đối với bị cáo một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Mức hình phạt tù đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp, cần được xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Xét hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo nhằm phục vụ nhu cầu nghiện hút của cá nhân, bị cáo không có tài sản riêng gì có giá trị, gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo việc áp dụng hình phạt bổ sung là không khả thi, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về vật chứng của vụ án:

01 phong bì niêm phong kí hiệu A2 bên trong có 0,179g (không phẩy một bảy chín gam) ma túy, loại Heroine và vỏ bao gói còn lại sau giám định; 01 bì niêm phong ký hiệu là A3 bên trong là vỏ phong bì niêm phong vật chứng và 01 mảnh giấy màu trắng cần tịch thu tiêu hủy.

Về nguồn gốc số ma tuý loại Heroine bị thu giữ, Lương Văn T khai nhận mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực chợ Quán Vuông thuộc xã Trung Hội, huyện ĐH, bị cáo không biết họ tên và địa chỉ nên không có đủ cơ sở để xác minh xử lý, khi nào xác định được đối tượng sẽ xử lý sau.

. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt đối bị cáo, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo là phù hợp, đúng pháp luật và cần được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lương Văn T phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Lương VănT 24 (hai mươi tư) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 29/12/2022.

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lương Văn T.

Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 14/3/2023 để bảo đảm cho việc thi hành án.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sư:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong kí hiệu A2 bên trong có 0,179g (không phảy một bảy chín gam) ma túy, loại Heroine và vỏ bao gói còn lại sau giám định; 01 bì niêm phong ký hiệu là A3 bên trong là vỏ phong bì niêm phong vật chứng và 01 mảnh giấy màu trắng thu giữ của Lương Văn T.

(Tình trạng vật chứng như tại Biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 14/02/2023 giữa Công an huyện ĐH và Chi cục Thi hành án dân sự huyện ĐH).

3. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 135,136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự ; Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

- Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lương Văn T.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ