vanban.org

Bản án 11/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đắk G'Long, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 27/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Vi Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Vi Văn M 06 (sáu) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (ngày 10-12-2022). Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy số heroin hoàn lại sau giám định l… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi Văn M - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vi Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK GLONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐẮK NÔNG
Bản án số: 11/2023/HS-ST
Ngày 27 - 3 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLONG, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Đình Hưng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Văn Hoè và ông K’Bình

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Duy Cường – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Anh Văn - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2023/QĐXXST - HS, ngày 14 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:

Vi Văn M, sinh năm 1990 tại tỉnh Nghệ An; nơi ĐKHKTT: Bản N, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An; chỗ ở hiện nay: Bon N, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): Không biết chữ; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vi Văn S và bà Lương Thị H (đã chết); bị cáo chưa có vợ và con; tiền án: 02, ngày 23-7-2020 bị Toà án nhân dân huyện Đắk Glong xử phạt 04 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 34/2020/HSST; ngày 28-9-2021 bị Toà án nhân dân huyện Đắk Glong xử phạt 09 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 31/2021/HSST; tiền sự: 01, ngày 02-11-2022, bị UBND xã Q ra quyết định số 171/QĐ-UBND, áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn với thời hạn 03 tháng, chưa hết thời gian bị coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; bị bắt tạm giữ ngày 10-12-2022, sau đó chuyển tạm giam - có mặt

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Anh Đinh Văn T, sinh năm 1982, địa chỉ: Thôn Đ, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vi Văn M đang là đối tượng nghiện ma tuý. Khoảng 08 giờ ngày 10-12-2022, M điều khiển xe mô tô kiểu dáng Dream, nhãn hiệu LISOHAKA, màu nâu, biển kiểm soát 98L6 – 3165 đi từ xã Q, huyện Đ đến khu vực xã Q, huyện K, tỉnh Đắk Nông gặp một người phụ nữ người dân tộc H’Mông (không xác định được nhân thân, lai lịch) hỏi mua Heroine để sử dụng. Lúc này M đưa cho người phụ nữ số tiền 100.000 đồng, sau đó người phụ nữ đi đâu không rõ, còn M đứng chờ. Khoảng 05 phút sau người phụ nữ quay lại đưa cho M 01 gói nilon màu trong suốt bên trong có chứa Heroine. M giấu Heroine vào túi áo ở trước ngực bên phải rồi điều khiển xe mô tô đi về xã Q. Trên đường về, M dừng xe lại lấy một ít Heroine ra sử dụng (bằng hình thức chích). Số Heroine còn lại M gói vào giấy bạc và bỏ vào túi nilon (của bao thuốc lá) dùng bật lửa hàn kín lại cất vào túi áo ở trước ngực bên phải rồi tiếp tục điều khiển xe mô tô đi về. Đến 11 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi đến đoạn đường Km 249 Quốc lộ 28, thuộc thôn 5, xã Q thì bị lực lượng Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Đắk Nông phối hợp cùng Công an huyện Đắk Glong phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ tang vật. Sau đó Vi Văn M bị khởi tố để điều tra.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong đã thu giữ: 01 gói giấy bạc được bọc trong 01 túi nilon trong suốt, bên trong chứa chất rắn màu trắng (nghi là heroine); 01 chiếc xe mô tô kiểu dáng Dream, nhãn hiệu LISOHAKA, màu nâu, biển kiểm soát 98L6 – 3165.

Tại Bản giám định số 361/KL-KTHS ngày 15-12-2022 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Đắk Nông kết luận: Chất rắn màu trắng đựng trong 01 gói giấy bạc được niêm phong trong bì thư gửi giám định là ma túy, có khối lượng là 0,3195 gam là Heroine;

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giữ chuyển Tòa án xét xử, đề nghị tịch thu tiêu hủy 0,2762 gam Heroine;

Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98L6 – 3165 thu giữ của Vi Văn M. M khai mua lại của người khác (không xác định được nhân thân, lai lịch) để làm phương tiện đi lại nhưng không có giấy tờ chứng M chủ sở hữu. Quá trình điều tra xác M chủ xe là ông Đinh Văn T (sinh năm 1965, trú tại thôn Đ, xã M, huyện H, tỉnh Bắc Giang). Theo lời khai của ông T vào năm 2018 đã bán chiếc xe này cho một người đàn ông không rõ nhân thân, lý lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong đã ra thông báo truy tìm chủ sở hữu chiếc xe mô tô trên, hết thời hạn truy tìm mà không xác định được chủ sở hữu thì tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Ngoài ra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong còn thu giữ của Vi Văn M 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen. Quá trình điều tra đã xác định tài sản này không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu

Bản cáo trạng số 19/CT-VKS ngày 23 tháng 02 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông truy tố bị cáo Vi Văn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm 0 khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng và thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong truy tố đối với bị cáo là đúng, không oan.

Kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi phân tích nội dung vụ án đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vi Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” về hình phạt: Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vi Văn M từ 06 năm đến 07 năm tù; các biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy số ma túy và những vật chứng liên quan hoàn lại sau giám định; tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 xe mô tô BKS 98L6-3165 do sử dụng làm phương tiện phạm tội.

Đối với đối tượng bán ma túy cho Vi Văn M do không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ xử lý.

Bị cáo nói lời sau cùng: Thừa nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo ăn năn, hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu thu thập được có trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đắk Glong, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2]. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã được thu thập lưu trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa. Các chứng cứ buộc tội và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đối với việc giải quyết vụ án là có căn cứ pháp lý qua đó xác định: Khoảng 08 giờ ngày 10-12-2022, tại khu vực xã Q, huyện K, tỉnh Đắk Nông, M mua 100.000 đồng Heroine của một người phụ nữ người dân tộc H’Mông (không rõ nhân thân, lai lịch) rồi cất giấu trong túi áo đang mặc để sử dụng. Đến 11 giờ 30 phút cùng ngày khi đi về đến đoạn Km 249 Quốc lộ 28, thuộc thôn 5, xã Q, huyện Đ thì bị lực lượng Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Đắk Nông phối hợp cùng Công an huyện Đắk Glong phát hiện bắt quả tang Vi Văn M đang tàng trữ trái phép 0,3195 gam Heroine. Do đó hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” . Bị cáo phạm tội trong trường hợp tái phạm nguy hiểm nên phải chịu tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm 0 khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Điểm o Khoản Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

…

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

…

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

…

o) Tái phạm nguy hiểm”.

[3]. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy, xâm phạm đến sự phát triển bình thường về thể chất và tinh thần của con người, là tiền đề tạo ra những hệ lụy xấu cho đời sống xã hội, ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương, do đó phải xử lý nghiêm trước pháp luật. Xét thấy, bị cáo đã nhiều lần bị xét xử về tội trộm cắp tài sản, đã bị UBND xã Q ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, nhưng bị cáo không rút ra được bài học, do đó cần áp dụng mức hình phạt nghiêm đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để bị cáo tự cải tạo, giáo dục đồng thời răn đe, phòng ngừa chung.

[4]. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng đặc biệt khó khăn, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

[5]. Xét quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong truy tố bị cáo về tội danh và mức hình phạt áp dụng là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, mức thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7]. Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo, do không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ để xử lý.

[8]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2. Điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy số heroin hoàn lại sau giám định là 0,2762 gam; đối với xe mô tô BKS 98L6 -3165, quá trình điều tra xác định, bị cáo mua của anh Đinh Văn T với giá tiền 2.000.000 đồng, do anh Tám không yêu cầu, đề nghị gì, xe mô tô trên đang do bị cáo quản lý, sử dụng và không dùng vào việc tàng trữ trái phép chất ma tuý nên cần trả lại cho bị cáo là phù hợp.

Chấp nhận việc cơ Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen do không liên quan đến hành vi phạm tội.

[9]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10]. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Vi Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Vi Văn M 06 (sáu) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (ngày 10-12-2022).

2. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy số heroin hoàn lại sau giám định là 0,2762 gam; trả lại cho bị cáo xe mô tô BKS 98L6 -3165, do không dùng vào việc tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Chấp nhận việc cơ Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen do không liên quan đến hành vi phạm tội.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Vi Văn M phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định liên quan đến quyền lợi của mình trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ