vanban.org

Bản án 11/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cư M'Gar, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 11/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Y D phạm tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Y D 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 19 tháng 12 năm 2022. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Y D tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Y D phạm tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CƯM’GAR
TỈNH ĐĂKLĂK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2023/HS-ST
Ngày 19 - 4 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯM’GAR, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Huyền Diệu

Các Hội thẩm:

1. Bà Trần Thị Thanh Thẩm

2. Ông Nguyễn Đình Tô

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Vũ Đức Đuống – Thư ký Tòa án nhân dân huyện CưM’gar.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CưM’gar tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đình Dũng, Kiểm sát viên

Ngày 19 tháng 4 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện CưM’gar, tỉnh ĐăkLăk, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2023/HSST ngày 13 tháng 3 năm 2023, quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2023/QĐXXST - HS ngày 05 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Y D, sinh ngày 10 tháng 02 năm 1998 tại tỉnh Đăklăk

Nơi cư trú: Buôn T, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Êđê; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Y J, sinh năm 1970 và bà H R (đã chết); có vợ là chị H W, sinh năm 1996, có 02 người con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2018. Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 28/12/2022, Công an huyện Cư M’gar ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 19 tháng 12 năm 2022, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Đăklăk, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà H W, sinh năm 1996

Địa chỉ: Buôn T, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk (có mặt)

- Người làm chứng: Ông Lương Đức T, sinh năm 1994 (vắng mặt)

Địa chỉ: Buôn T, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk

+ Ông Huỳnh Minh C, sinh năm 1972 (vắng mặt)

Địa chỉ: 515/20/17 H, tổ dân phố P, phường O, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Y D là đối tượng nghiện ma tuý. Thông qua mạng xã hội FaceSok, Y D quen biết với một người tên S, nhà ở thành phố Buôn Ma Thuột (nhưng không biết họ tên thật, nhân thân lai lịch và địa chỉ của người này). Sau đó, Y D cho S số điện thoại của mình để liên lạc qua Zalo. Quá trình nói chuyện, Y D biết được S cũng sử dụng ma túy và bán Ma túy. Vì vậy, vào khoảng giữa tháng 11/2022, do có nhu cầu sử dụng nên Y D đặt mua ma túy của S thì S đồng ý và nhắn số tài khoản của mình qua Zalo cho Y D. Sau khi nhận được số tài khoản của S, Y D đến cây xăng dầu Dũng Phát ở buôn Tơng Liă, xã Ea Tar, huyện Cư M’gar nhờ anh Lương Đức T (là con trai của chủ cây xăng dầu Dũng Phát) để nhờ anh T chuyển số tiền 1.800.000 đồng vào tài khoản của S. Sau khi anh T chuyển tiền, Y D trả tiền mặt và phí chuyển tiền cho anh T đồng thời xóa số tài khoản của S và chờ S chuyển ma túy cho mình. Tuy nhiên, chờ khoảng một tháng nhưng không nhận được ma túy nên Y D liên lạc với S để đòi tiền thì S nói sẽ gửi ma túy cho Y D. Sáng ngày 19/12/2022, S gọi qua Zalo cho Y D nói gửi ma túy cho Y D theo tuyến xe buýt Buôn Ma Thuôt – Ea Kiết. Nghe vậy, Y D nói S gửi về ngã ba buôn Ea Sang, xã Ea H’đing, huyện Cư M’gar và liên lạc theo số điện thoại 0866.530.709 để Y D ra nhận.

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 19/12/2022, Y D điều khiển xe mô tô biển số 47H1-708.26 đến ngã ba buôn Ea Sang, xã Ea H’đing đứng chờ xe buýt để nhận ma túy. Khi xe buýt tới ngã ba buôn Ea Sang, xã Ea H’đing, thì có anh Huỳnh Minh C, là tài xế của Công ty cổ phần Tín Nghĩa Logistics điều khiển xe buýt biển số 47B1-02686 gọi điện cho Y D ra nhận hàng. Tại đây, anh C giao cho Y D một gói hàng có đặc điểm: Là một túi nylon màu trắng dán nhãn: “XE BUÝT CƯ M’GAR Số 0002961TEM GỬI HÀNG”, bên trong túi nylon màu trắng có một hộp bìa giấy in chữ: “nước KUN Trái Ổi”, mở hộp bìa giấy có một loa màu đen có in chữ: “KIMISO” và một gói nylon trong suốt chứa chất rắn màu trắng, dạng tinh thể (anh C không biết gói hàng giao cho Y D có chứa ma túy). Sau khi nhận được hàng, Y D điều khiển xe mô tô biển số 47H1-708.26 để đi về nhà thì bị tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Đắk Lắk, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an huyện Cư M’gar và Công an xã Ea H’đing, huyện Cư M'gar phát hiện bắt giữ. Tại trụ sở Công an xã Ea H’đinh, Y D khai nhận gói hàng S gửi cho Y D ngày 19/12/2022 theo tuyến xe buýt Buôn Ma Thuột - Ea Kiết là ma túy.

Tại bản kết luận giám định số 28/KL-KTHS, ngày 26/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: Chất rắn màu trắng dạng tinh thể chứa trong một gói nylon trong suốt được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 2,4599gam, loại Methamphetamine.

Bản cáo trạng số: 09/CT – VKS, ngày 10 tháng 3 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện CưM’gar, tỉnh Đắk Lắk đã truy tố bị cáo Y D về tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đồng thời giữ nguyên quyết định đã truy tố và đưa ra các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Y D phạm tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1,2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Y D từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 2,3300 gam và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định được niêm phong trong 01 phong bì “Mẫu vật còn lại sau giám định vụ Y D – Công an huyện CưMgar”, có các chữ ký ghi tên: Nguyễn Văn Anh, Nguyễn Thị Thúy Phương và đóng dấu tròn màu đỏ Phòng kỹ thuận hình sự - Công an tỉnh Đắk Lắk; Một hộp bìa giấy có in chữ “nước KUN Trái Ổi”; Một loa màu đen có chữ “KIMISO”; Một túi nylon màu trắng, dán nhãn “XE BUÝT CƯ M’GAR Số: 0002961 TEM GỬI HÀNG”

Tịch thu sung ngân sách nhà nước: Một điện thoại di động cảm ứng, mặt lưng có chữ “OPPO”, số IMEI 863438036291399, gắn hai sim số 0866530709 và 0385603319;

Tịch thu sung ngân sách nhà nước ½ giá trị xe mô tô biển số 47H1-708.26; loại xe EXCITER; số khung RLCUG1220MY014957; số máy G3M5E075963; màu sơn trắng -đỏ - đen là 14.250.000 đồng.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến đối đáp tranh luận gì, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ phần hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

. Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án và đã đủ căn cứ kết luận: Ngày 19/12/2022, tại khu vực ngã ba buôn Ea Sang, xã Ea H’đing, huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk, bị can Y D có hành vi tàng trữ 2,4599 gam ma túy, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng. Bị tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Đắk Lắk, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế -Ma túy Công an huyện Cư M’gar và Công an xã Ea H’đing huyện Cư M’gar phát hiện bắt quả tang và thu giữ toàn bộ tang vật liên quan. Hành vi của bị cáo Y D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như vậy bị cáo Y D bị Viện kiểm sát nhân dân huyện CưM’gar truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp luật.

Tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

…..

c) Heroine, cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”

. Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm sự quản lý độc quyền của nhà nước về các chất gây nghiện mà còn xâm phạm đến trật tự trị an trong xã hội. Bị cáo nhận thức được Methamphetamine là chất ma tuý gây nghiện làm huỷ hoại sức khoẻ con người, đây cũng là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội, tội phạm về hình sự như cướp giật, trộm cắp... hiện nay loại tội phạm về ma tuý đang diễn ra phức tạp. Một trong những biện pháp nhằm đấu tranh phòng, chống tệ nạn ma túy là việc xử lý các hành vi phạm tội về ma túy thật nghiêm khắc. Do đó cần xử phạt bị cáo mức án thật nghiêm khắc và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, để bị cáo có thời gian cải tạo thành công dân lương thiện, sống biết tôn trọng pháp luật cũng như phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

. Về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Ngày 28/12/2022, Công an huyện Cư M’gar ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021.

Bị cáo lần đầu tiên phạm tội, quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người dân tộc thiểu số đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Với tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như đã nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung trong toàn xã hội.

Trong vụ án này còn có đối tượng tên S ở thành phố Buôn Ma Thuột là người bán ma túy cho Y D. Quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân lai lịch, địa chỉ của người này. Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cư M’gar tách hành vi của S ra khỏi vụ án để tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau là phù hợp.

Đối với ông Lương Đức T bán xăng dầu tại cửa hàng xăng dầu Dũng Phát là người chuyển tiền cho Y Dat nhưng không biết việc Y D mua ma túy để sử dụng. Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cư M’gar không xử lý là phù hợp.

Đối với ông Huỳnh Minh C, là tài xế lái xe buýt của Công ty cổ phần Tín Nghĩa Logistics. Ngày 19/12/2022, ông C nhận hàng và giao hàng cho Y D. Tuy nhiên, ông C không biết hàng vận chuyển cho Y Dat có chứa ma túy. Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cư M’gar không xử lý là phù hợp.

Đối với chị H W là vợ của bị cáo. Bà H W không biết, không liên quan đến việc Y D mua ma túy để sử dụng. Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cư M’gar không xử lý là phù hợp.

Về xử lý vật chứng: Đối với mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 2,3300 gam và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định được niêm phong trong 01 phong bì “Mẫu vật còn lại sau giám định vụ Y D – Công an huyện CưMgar”, có các chữ ký ghi tên: Nguyễn Văn A, Nguyễn Thị Thúy P và đóng dấu tròn màu đỏ Phòng kỹ thuận hình sự - Công an tỉnh Đắk Lắk*; Một hộp bìa giấy có in chữ “nước KUN Trái Ổi”; Một loa màu đen có chữ “KIMISO”; Một túi nylon màu trắng, dán nhãn “XE BUÝT CƯ M’GAR Số: 0002961 TEM GỬI HÀNG” không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với một điện thoại di động cảm ứng, mặt lưng có chữ “OPPO”, số IMEI 863438036291399, gắn hai sim số 0866530709 và 0385603319, là điện thoại của Y D dùng để thực hiện tội phạm, cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

Đối với chiếc xe mô tô biển số 47H1-708.26; loại xe EXCITER; số khung RLCUG1220MY014957; số máy G3M5E075963; màu sơn trắng - đỏ - đen, được xác định là tài sản chung của Y D và vợ là chị HW. Kết quả định giá tài sản chiếc xe trên trị giá 28.500.000 đồng. Việc Y D dùng xe mô tô để thực hiện hành vi phạm tội chị HW không biết. Do đó, cần tịch thu sung ngân sách nhà nước ½ giá trị xe mô tô nêu trên là 14.250.000 đồng. Hoàn trả cho chị HW chiếc xe trên sau khi nộp đủ số tiền 14.250.000 đồng vào ngân sách nhà nước.

Về án phí: Căn cứ Điều 135, khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án: do thuộc đối tượng hộ nghèo nên bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Y D phạm tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1,2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật

hình sự.

Xử phạt bị cáo Y D 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 19 tháng 12 năm 2022.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 2,3300 gam và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định được niêm phong trong 01 phong bì “Mẫu vật còn lại sau giám định vụ Y D – Công an huyện CưMgar”, có các chữ ký ghi tên: Nguyễn Văn A, Nguyễn Thị Thúy P và đóng dấu tròn màu đỏ Phòng kỹ thuận hình sự - Công an tỉnh Đắk Lắk; Một hộp bìa giấy có in chữ “nước KUN Trái Ổi”; Một loa màu đen có chữ “KIMISO”; Một túi nylon màu trắng, dán nhãn “XE BUÝT CƯ M’GAR Số: 0002961 TEM GỬI HÀNG”

Tịch thu sung ngân sách nhà nước: Một điện thoại di động cảm ứng, mặt lưng có chữ “OPPO”, số IMEI 863438036291399, gắn hai sim số 0866530709 và 0385603319;

Tịch thu sung ngân sách nhà nước ½ giá trị xe mô tô biển số 47H1-708.26; loại xe EXCITER; số khung RLCUG1220MY014957; số máy G3M5E075963; màu sơn trắng -đỏ - đen là 14.250.000 đồng.

Hoàn trả cho chị HW xe mô tô biển số 47H1-708.26; loại xe EXCITER; số khung RLCUG1220MY014957; số máy G3M5E075963; màu sơn trắng - đỏ - đen sau khi nộp vào ngân sách nhà nước ½ giá trị chiếc xe là 14.250.000 đồng. Chi HW có trách nhiệm đăng ký quyền sở hữu chiếc xe trên theo quy định của pháp luật.

(Tình trạng và đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 13 tháng 3 năm 2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện CưMgar, tỉnh Đắk Lắk và Chi cục Thi hành án dân sự huyện CưMgar, tỉnh Đắk Lắk)

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2316 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Y D được miễn án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ