- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ bị cáo Ngô Thanh H - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Lu…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Ngô Thanh H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU KÈ TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2023/HS-ST Ngày 15/3/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU KÈ, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Chí Công.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đặng Lễ Nghi;
Ông Lê Văn Đọt;
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Kim Hua, Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 08/2023/TLST-HS, ngày 03 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2023/QĐXXST-HS, ngày 01 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:
Ngô Thanh H - Sinh ngày 16/12/1994, tại tỉnh Sóc Trăng; Giới tính: Nam; Nơi thường trú: ấp P, xã P, huyện K, tỉnh Sóc Trăng; Chổ ở hiện nay: Ấp V, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch:Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ và tên cha: Ngô Văn H, sinh năm: 1970; Họ và tên mẹ: Tô Thị Thu H, sinh năm 1971; Tiền án, tiền sự: Không có.
Bị cáo Ngô Thanh H bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14 tháng 10 năm 2022 cho đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Người bị hại: Bà Nguyễn Thị N - sinh năm 1958. Nơi cư trú: ấp 3, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (chết).
Những người đại diện hợp pháp của người bị hại:
1. Ông Thạch S - Sinh năm 1963. Nơi cư trú: ấp 3, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
2. Bà Hồ Thị Thúy T - Sinh năm1984. Nơi cư trú: ấp 1, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh; (Ủy quyền cho ông Thạch S).
3. Bà Hồ Thị Bích V - Sinh năm 1978. Nơi cư trú: phường 1, Quận 6, TP.Hồ Chí Minh; (Ủy quyền cho ông Thạch S).
4. Bà Hồ Thị Thúy K - Sinh năm1982. Nơi cư trú: Khóm 3, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Trà Vinh; (Ủy quyền cho ông Thạch S).
5. Bà Thạch Thị Thu V - Sinh năm 1989. Nơi cư trú: Đường số 8, L, T, TP.Hồ Chí Minh; (Ủy quyền cho ông Thạch S).
6. Bà Nguyễn Thị Q - Sinh năm1939. Nơi cư trú: ấp V, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh. (Ủy quyền cho ông Thạch S).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trương Thị Bích L; Sinh năm 1972. Nơi cư trú: ấp V, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh.(có mặt).
Những người làm chứng:
1. Ông Lâm Tuấn L - Sinh năm 1981. Nơi cư trú: ấp 1, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
2. Bà Thạch Thị Hồng T - Sinh năm 1980. Nơi cư trú: ấp 3, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ 40 phút ngày 19/8/2022, bị can Ngô Thanh H, một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 84K1-191.42 lưu thông trên tuyến đường Huyện 51 từ Cầu B thuộc ấp 2, xã P, huyện C mục đích để về nhà, khi đến đoạn đường phía trước trường THCS P thuộc địa phận ấp 3, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh, bị can điều khiển xe với tốc độ khoảng 40 km/h và chạy giữa lộ. Lúc này, H phát hiện bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1958 ngụ ấp 3, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh đang điều khiển xe đạp di chuyển từ phần đường bên trái sang phần lề bên phải (tính theo hướng di chuyển của xe mô tô H điều khiển, từ xã P về xã N) và đã di chuyển đến gần giữa lộ cách vạch kẻ đường 0,5 mét, cách xe mô tô bị can H đang điều khiển khoảng 12 mét. Thấy vậy, bị can H chủ quan đường vắng phương tiện qua lại và nghĩ rằng bà N sẽ tiếp tục điều khiển xe đạp di chuyển về bên lề phải theo hướng đi nên không tập trung quan sát hướng di chuyển về phía trước mà nhìn về bên phải hướng đi của bị can. Khi di chuyển được một đoạn, bị can H quan sát về phía trước nhìn thấy bà N đang điều khiển xe đạp phía trước cách xe mô tô bị can H đang điều khiển khoảng 01 mét. Do khoảng cách quá gần, bị can Ngô Thanh H không kịp xử lý nên bánh trước của xe mô tô biển kiểm soát 84K1-191.42 va chạm vào gác chân bên trái xe đạp do bà N đang điều khiển dẫn đến tai nạn. Hậu quả làm bà N bị thương nặng được đưa đến Bệnh viên đa khoa Trung ương C cấp cứu, đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày thì tử vong.
Sau khi tiếp nhận tin báo, Đội Cảnh sát giao thông và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cầu Kè tiến hành khám nghiệm hiện trường. Theo biên bản khám nghiệm hiện trường, đoạn đường xảy ra tai nạn là đoạn đường có biển báo hiệu đường cong, biển báo hiệu trẻ em, biển báo hiệu đường nhánh. Mặt đường được trãi nhựa, bằng phẳng, rộng 07 mét, có vạch sơn màu vàng đứt khoảng liên tục chia hai phần đường xe chạy ngược chiều nhau, tầm nhìn không bị che khuất.
Đồng thời, Đội cảnh sát giao thông Công an huyện Cầu Kè tiến hành kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở của bị can Ngô Thanh H, kết quả kiểm tra lúc 16 giờ 40 phút ngày 19/8/2022 là 0,000 mg/l khí thở.
Ngày 19/8/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cầu Kè đã ra Quyết định trưng cầu giám định pháp y đối với tử thi và nồng độ cồn bà Nguyễn Thị N. Ngày 25/8/2022 Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Trà Vinh có Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 452/KL-KTHS. Qua giám định tử thi Nguyễn Thị N, căn cứ vào tổn thương trên đại thể, kết luận: Nguyên nhân chính dẫn đến tử vong là do đa chấn thương sọ não nặng. Tại bản kết luận số 456/KL-KTHS ngày 05/9/2022 của Phòng kỷ thuật hình sự công an tỉnh Trà Vinh kết luận: Mẫu máu đựng trong 01 (một) ống nhựa thu từ tử thi Nguyễn Thị N, được niêm phong gửi giám định không tìm thấy thành phần Ethanol (cồn).
Bị can Ngô Thanh H có giấy phép lái xe mô tô theo quy định, điều khiển xe mô tô biển số 84K1-191.42 tham gia giao thông đường bộ không chú ý quan sát là nguyên nhân chính dẫn đến gây tai nạn. Hành vi của bị can Ngô Thanh H đã vi phạm vào khoản 5 Điều 4, khoản 23 Điều 8, Luật giao thông đường bộ; điểm b khoản 7 Điều 6 Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ.
Hành vi của Ngô Thanh H có dấu hiệu tội phạm “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Ngày 14/10/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra công an ra quyết định khởi tố vụ án, quyết định khởi tố bị can và ra Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Ngô Thanh H để tiến hành hoạt động điều tra. Quá trình điều tra bị can Ngô Thanh H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu HONDA loại Wave α, màu xanh biển số 84K1 - 191.42 đã qua sử dụng. Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Cầu Kè xác định xe mô tô trên là của bà Trương Thị Bích L - sinh năm 1972 ngụ ấp V, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh (mợ ruột bị can) đứng tên chủ sở hữu, thời điểm xảy ra vụ tai nạn xe mô tô nói trên có tham gia bảo hiểm trách nhiệm dân sự của Công ty Bảo hiểm Bưu điện C. Cơ quan cảnh sát điều tra có văn bản yêu cầu phía công ty bảo hiểm xác định mức chi trả trong vụ tai nạn giao thông ngày 19/8/2022. Qua tiếp xúc với người đại diện Công ty Bảo hiểm Bưu điện C xác định mức chi trả trong vụ tai nạn giao thông ngày 19/8/2022 là 120.000.000 đồng.
Quá trình khám nghiệm hiện trường cơ quan cảnh sát điều tra tạm giữ 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA loại Wave α, màu xanh biển số 84K1 - 191.42 và 01 chiếc xe đạp nhãn hiệu ASAMA, màu trắng bạc; sau khi tiến hành khám phương tiên, ghi nhận các dấu vết. Xét thấy không cần thiết phải tiếp tục tạm giữ, Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Cầu Kè ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả cho chủ sở hữu và đã tiến hành trao trả xong. Sau khi bà Trương Thị Bích L nhận lại xe mô tô biển số 84K1-191.42, xét thấy bị trầy xướt nhẹ nên không yêu cầu bị can bồi thường.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi xảy ra tai nạn bị cáo Ngô Thanh H cùng gia đình tự nguyện khắc phục hậu quả cho gia đình nạn nhân với số tiền là 120.000.000 đồng. Đại diện bị hại ông Thạch S (chồng nạn nhân NguyễnThị N) người được đại diện các bị hại ủy quyền đã nhận số tiền khắc phục hậu quả của bị can Ngô Thanh H nên không yêu cầu bồi thường gì thêm và đã làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị can.
Tại cáo trạng số 10/CT-VKS-HS ngày 01/02/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh đã truy tố bị cáo Ngô Thanh H về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Ngô Thanh H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè thể hiện là đúng, bị cáo thừa nhận hành vi gây tai nạn là do lỗi điều khiển xe mô tô không chú ý quan sát và tại phiên tòa hôm nay bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Quan điểm Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh: Sau khi phân tích các chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội, phân tích các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình phạt cho bị cáo, Vị đại diện Viện Kiểm sát vẫn giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm a, khoản 1, Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Ngô Thanh H từ 12 đến 18 tháng cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh kết hợp với gia đình bị cáo giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: do đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên đề nghị không xem xét.
Về vật chứng vụ án: đã xử lý xong nên đề nghị không xem xét.
Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Ngô Thanh H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Ngô Thanh H khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của người làm chứng; sơ đồ hiện trường; kết luận giám định pháp y của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Trà Vinh và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào khoảng 15 giờ 50 phút, ngày 19/8/2022 trên tuyến đường Huyện A đoạn thuộc địa phận ấp 3, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh, bị cáo Ngô Thanh H điều khiển xe mô tô biển số 84K1-191.42 hướng từ ấp 2, xã P, huyện C về ấp V, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Do không chú ý quan sát nên đã va chạm vào xe đạp do bà Nguyễn Thị N điều khiển từ phần đường bên trái sang phần đường bên phải (tính theo hướng xe mô tô bị can điều khiển). Hậu quả làm bà N bị té xuống lộ nhựa gây chấn thương nặng và tử vong cùng ngày. Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Ngô Thanh H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1, Điều 260 Bộ luật Hình sự như kết luận của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thẩm tra các quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, thấy rằng các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, đều đúng quy định của pháp luật, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại hoặc có ý kiến nào khác phản đối các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nên các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Xét tính chất mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo: Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, bị cáo là người đã trưởng thành, có giấy phép lái xe theo quy định nên bản thân bị cáo hiểu rõ hành vi điều khiển phương tiện tham gia giao thông mà không chú ý quan sát là vi phạm pháp luật, có thể gây nguy hiểm cho bản thân và những người khác khi tham gia giao thông, do bị cáo chủ quan đường vắng không có người và phương tiện di chuyển cùng chiều phía trước nên bị cáo đã không tập trung quan sát trên phần đường di chuyển từ đó dẫn đến tai nạn giao thông. Hậu quả làm bà Nguyễn Thị N tử vong. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những gây đau thương mất mát cho gia đình nạn nhân mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng, gây lo lắng cho người tham gia giao thông. Để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, để bị cáo có điều kiện học tập và cải tạo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe, phòng chống tội phạm cho toàn xã hội.
Song khi quyết định hình phạt đối với bị cáo cũng cần xem xét trong quá trình điều tra cũng như tại tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đã bồi thường, khắc phục toàn bộ thiệt hại cho gia đình nạn nhân. Người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, gia đình bị cáo có công với cách mạng. Từ những tình tiết trên, Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Với hành vi phạm tội của bị cáo lẽ ra phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo nhưng bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú. Vì vậy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, đồng thời giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh kết hợp với gia đình của bị cáo giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo. Do bị cáo H là tài xế tự do, thu nhập không ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: đại diện hợp pháp cho bị hại đã nhận đủ số tiền bồi thường thiệt hại và không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đưa ra xem xét.
Đối với xe mô tô biển số số 84K1-191.42 là của bà Trương Thị Bích L, nhưng sau khi nhận lại xe xét thấy chỉ bị trầy xướt nhẹ nên không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Xe mô tô biển số số 84K1-191.42 là của bà Trương Thị Bích L có tham gia bảo hiểm trách nhiệm dân sự của Công ty Bảo hiểm Bưu điện C đang còn hiệu lực, tuy nhiên do bị cáo Ngô Thanh H không có yêu cầu giải quyết mà sẽ tự liên hệ với Công ty bảo hiểm để giải quyết về việc bồi thường, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Vật chứng vụ án: Trong quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô, xe đạp cho chủ sở hữu và người đại diện hợp pháp theo đúng quy định nên không xem xét.
Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Ngô Thanh H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Từ những phân tích nêu trên, xét thấy quan điểm của Vị đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là phù hợp nên được chấp nhận.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Ngô Thanh H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm a, khoản 1, Điều 260; Điều 36, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Ngô Thanh H 01 (một) năm cải tạo không giam giữ.
Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Ngô Thanh H cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh giám sát, giáo dục bị cáo. Gia đình bị cáo Ngô Thanh H có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban nhân dân xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian chấp hành án, bị cáo phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ.
Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Ngô Thanh H.
Về án phí: Buộc bị cáo Ngô Thanh H nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền, nghĩa vụ của người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Trà Vinh; - VKSND huyện Cầu Kè; - Công an huyện Cầu Kè; - CC Thi hành án DS huyện Cầu Kè; - UBND xã N, huyện Cầu Kè; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Chí Công |