- Tranh chấp gì? án hình sự — "Liễu Văn T và đồng phạm - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo: Hứa Phúc L, Lý Văn N, Nông Văn Đ, Liễu Văn T, Hoàng Văn T1, La Văn H, và Lý Hữu T2 phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2023/HS-ST Ngày 24-5-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Khi
Các Hội thẩm nhân dân:
ng Lư ng Mạnh D ng
Ông Tri u Ti n Lả
- Thư ký phiên tòa: Bà Dư ng Hà Thu - Thư ký Tòa án nhân dân huy n Bình Gia, tỉnh Lạng S n.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nông Thị Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huy n Bình Gia, tỉnh Lạng S n xét xử s thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 08/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 4 năm 2023, theo Quy t định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Liễu Văn T, sinh ngày 22/01/1982 tại huy n B, tỉnh Lạng S n. N i cư trú: thôn V, xã H, huy n B, tỉnh Lạng S n. Giới t nh: Nam; Nghề nghi p: Làm ruộng; Quốc tịch: Vi t Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không. Trình độ văn hóa: 6/12. Con ông: Liễu Văn B – sinh năm 1948. Con bà: Lý Thị M – sinh năm 1944 (đã ch t). Vợ: Nông Thị H - Sinh năm: 1982. Con: có 03 người con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh năm 2015. Anh chị em ruột: Có 10 người, bị cáo là thứ bảy. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 30/09/2011 Công an huy n V ra quy t định xử phạt vi phạm hành ch nh về hành vi đánh bạc, hình thức phạt tiền, số tiền 1.500.000đ (một tri u năm trăm nghìn đ ng). Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huy n B từ ngày 09/11/2022 đ n ngày 30/12/2022 được gia đình bảo lĩnh về tại ngoại tại n i cư trú. Có m t.
2. La Văn H, sinh ngày 19/4/1968 tại huy n B, tỉnh Lạng S n. N i cư trú: Thôn Đ, xã H, huy n B, tỉnh Lạng S n. Giới t nh: Nam; Nghề nghi p: Làm ruộng; Quốc tịch: Vi t Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không. Trình độ văn hóa: 9/10. Con ông: La Văn K – sinh năm: 1937 (đã ch t). Con bà: Nông Thị V – sinh năm 1938 (đã ch t). Vợ: Đường Thị T - Sinh năm: 1964. Con: Có 02 người con, con lớn sinh năm 1992, con nhỏ sinh năm 2000. Anh chị em ruột: Có 06 người, bị cáo là thứ năm. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huy n B từ ngày 09/11/2022 đ n ngày 05/01/2023 được gia đình bảo lĩnh về tại ngoại tại n i cư trú. Có m t.
3. Hoàng Văn T1, sinh ngày 10/02/1991 tại huy n B, tỉnh Lạng S n. N i cư trú: thôn N, xã H1, huy n B, tỉnh Lạng S n. Giới t nh: Nam; Nghề nghi p: Làm ruộng; Quốc tịch: Vi t Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không. Trình độ văn hóa: 10/12. Con ông: Hoàng Văn H – Sinh năm 1958 (đã ch t). Con bà: Hoàng Thị X – Sinh năm 1960. Vợ: Lộc Thị H - Sinh năm: 1992. Con: có 01 người con, sinh năm 2012. Anh chị em ruột: có 02 người, bị cáo là thứ hai. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huy n B từ ngày 09/11/2022 đ n ngày 30/12/2022 được gia đình bảo lĩnh về tại ngoại tại n i cư trú. Có m t.
4. Hứa Phúc L, sinh ngày 10/10/1973 tại huy n B, tỉnh Lạng S n. N i cư trú: Thôn V, xã H, huy n B, tỉnh Lạng S n. Giới t nh: Nam; Nghề nghi p: Làm ruộng; Quốc tịch: Vi t Nam; Dân tộc: Nùng;Tôn giáo: Không. Trình độ văn hóa: 7/12. Con ông: Hứa Văn Th – sinh năm 1942 (đã ch t). Con bà: Mai Bích V – sinh năm 1941. Vợ: Nguyễn Thị T - Sinh năm 1975. Con: có 02 người con, con lớn sinh năm 1996, con nhỏ sinh năm 2004. Anh chị em ruột: Có 06 người, bị cáo là thứ ba. Tiền án: 01 tiền án: Ngày 20/3/1998, bị Tòa án nhân dân huy n B xử phạt 18 tháng tù giam về tội Mua bán thuốc nổ trái phép. Do đ n ngày 24/02/2023, bị cáo mới đ n Chi cục Thi hành án dân sự huy n B chấp hành khoản tiền án ph , hình phạt bổ sung và số tiền thu lợi bất ch nh). Tiền sự: Không. Nhân thân: Tháng 01/1996, bị Công an huy n B xử phạt 2.000.000 đ ng (hai tri u đ ng) về hành vi Buôn bán thuốc nổ. Ngày 09/6/2010, bị Ủy ban nhân dân huy n B ra Quy t định xử phạt vi phạm hành ch nh về hành vi Khai thác khoáng sản trái phép, hình thức phạt tiền, số tiền 10.000.000 đ ng (Mười tri u đ ng). Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huy n B từ ngày 09/11/2022 đ n ngày 30/12/2022 được gia đình bảo lĩnh về tại ngoại tại n i cư trú. Có m t.
5. Lý Hữu T2, sinh ngày 10/11/1984 tại huy n B, tỉnh Lạng S n. N i cư trú: Thôn Đ, xã H, huy n B, tỉnh Lạng S n. Giới t nh: Nam; Nghề nghi p: Làm ruộng; Quốc tịch: Vi t Nam; Dân tộc: Nùng;Tôn giáo: Không. Trình độ văn hóa: 12/12. Con ông: Lý Văn Th – Sinh năm 1960 (đã ch t). Con bà: Nông Thị Đ – Sinh năm 1963 (đã ch t). Vợ: Nguyễn Thị T – Sinh năm: 1983. Con: có 02 người con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2022. Anh chị em ruột: Có 05 người, bị cáo là thứ nhất. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huy n B từ ngày 10/11/2022 đ n ngày 30/12/2022 được gia đình bảo lĩnh về tại ngoại tại n i cư trú. Có m t.
6. Lý Văn N, sinh ngày 01/3/1993 tại huy n B, tỉnh Lạng S n. N i cư trú: Thôn V, xã H, huy n B, tỉnh Lạng S n. Giới t nh: Nam; Nghề nghi p: Làm ruộng; Quốc tịch: Vi t Nam; Dân tộc: Nùng;Tôn giáo: Không. Trình độ văn hóa: 11/12. Con ông: Lý Minh P – Sinh năm 1961. Con bà: Hoàng Thị D – Sinh năm 1962. Vợ: Hoàng Thị Lan H – Sinh năm 1996 (đã ly hôn). Con: có 01 người con, sinh năm 2015. Anh chị em ruột: Có 04 người, bị cáo là thứ tư. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 12/01/2011, bị Tòa án nhân dân huy n B, tỉnh Lạng S n xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 16/3/2011, bị Tòa án nhân dân huy n Cao Lộc, tỉnh Lạng S n xử phạt 06 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 28/8/2012, bị Tòa án nhân dân huy n Y, tỉnh Bắc Giang xử phạt 24 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 19/01/2016, bị Tòa án nhân dân huy n B, tỉnh Lạng S n xử phạt 24 tháng tù giam về tội Đánh bạc. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huy n B từ ngày 10/11/2022 đ n ngày 05/01/2023 được gia đình bảo lĩnh về tại ngoại tại n i cư trú. Có m t.
7. Nông Văn Đ, sinh ngày 13/11/1992 tại huy n B, tỉnh Lạng S n. N i cư trú: Thôn N, xã H, huy n B, tỉnh Lạng S n. Giới t nh: Nam; Nghề nghi p: Lao động tự do; Quốc tịch: Vi t Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không. Trình độ văn hóa: 9/12. Con ông: Nông Văn B – Sinh năm: 1974. Con bà: Vư ng Thị Q – Sinh năm: 1974. Vợ: Hoàng Thị B - Sinh năm: 1998. Con: có 01 người con, sinh năm 2018. Anh chị em ruột: Không có. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 12/01/2011, bị Tòa án nhân dân huy n B, tỉnh Lạng S n xử phạt 08 tháng tù cho hưởng án treo về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 12/02/2018, bị Công an huy n B ra Quy t định xử phạt vi phạm hành ch nh về hành vi Đánh bạc, bằng hình thức phạt tiền, mức phạt tiền 1.500.000 đ ng (Một tri u năm trăm nghìn đ ng). Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huy n B từ ngày 10/11/2022 đ n ngày 30/12/2022 được gia đình bảo lĩnh về tại ngoại tại n i cư trú. Có m t.
- Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Văn T1: ng Hoàng N - Luật sư trợ giúp pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lạng S n. Có m t.
- Người bào chữa cho bị cáo Hứa Phúc L: Bà Nông Thị T3 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lạng S n. Có m t.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lý Văn T4, sinh năm 1985. Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huy n B, tỉnh Lạng S n. Có m t.
- Người làm chứng:
1. Anh Hoàng Thành C, sinh năm 1992. Vắng m t.
2. Anh Lê Văn T5, sinh năm 1992. Vắng m t.
Cùng địa chỉ: Thôn V, xã H, huy n B, tỉnh Lạng S n.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài li u có trong h s vụ án và diễn bi n tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 08/11/2022, tại khu M thuộc thôn K, xã H, huy n B, tỉnh Lạng S n. Tổ công tác Công an huy n B ti n hành kiểm tra bắt quả tang các đối tượng Hoàng Văn T1, La Văn H, Hứa Phúc L và một số đối tượng khác đang đánh bạc được thua bằng tiền Vi t Nam đ ng dưới hình thức xóc đĩa. Thu giữ tại khu vực, vị tr các đối tượng đánh bạc g m: 6.050.000 đ ng (Sáu tri u không trăm năm mư i nghìn đ ng); 01 (một) bát con bằng sứ màu trắng; 01 (một) đĩa sứ màu trắng có hoa văn; 04 (bốn) quân vị hình tròn làm bằng vỏ bao thuốc lá Thăng Long, một m t màu trắng, một m t màu vàng; 01 (một) khăn vải hình chữ nhật màu h ng các đối tượng dùng để trải đánh bạc. Còn một số đối tượng khi thấy lực lượng Công an đã lợi dụng lúc đêm tối trốn thoát. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, đ ng thời đưa người cùng vật chứng về Công an huy n B để ti p tục điều tra mở rộng vụ án.
Tại C quan điều tra, các đối tượng khai nhận như sau: Khoảng 19 giờ ngày 08 tháng 11 năm 2022, Liễu Văn T đ n ngã ba N, xã H, huy n B thì g p Lý Văn N, Nông Văn Đ, Tnói “Có đi đánh bạc không?”. N, Đ đ ng ý và thống nhất cùng nhau đi đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa sát phạt nhau bằng tiền ngân hàng Nhà nước Vi t Nam, tại đường dân sinh thuộc khu M thuộc thôn K, xã H, huy n B. Do chưa có bát đĩa nên Liễu Văn T về nhà lấy bát đĩa đưa cho Nông Văn Đ để vào cốp xe máy của Đ, lúc này Hoàng Văn T1, sinh năm 1991, trú tại thôn N, xã H1, huy n B đ n cùng di chuyển bằng xe mô tô đ n địa điểm tại đường dân sinh M thuộc thôn K, xã H. Đ n n i Đ lấy vỏ bao thuốc lá Thăng Long đưa cho T cắt quân vị, T sử dụng kéo chuẩn bị từ trước cắt vỏ bao thuốc lá thành 04 (bốn) quân vị hình tròn một m t màu vàng, một m t màu trắng. T dùng khăn m t ở cốp xe của mình k ch thước 70cm x 30cm màu trắng, h ng trải xuống đất làm chi u để bát đĩa và tiền. Sau đó, Đ, N, T1, T ng i thành vòng tròn ở giữa đường dân sinh, Đ cầm cái xóc và cùng các đối tượng đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa, sát phạt nhau bằng tiền. Khoảng 15 phút sau thì Hứa Phúc L, La Văn H, bi t các đối tượng Đ, N, T, T1 đang đánh bạc ở địa điểm trên đã đ n cùng tham gia đánh bạc.
Hình thức đánh bạc: Các đối tượng sử dụng 04 (bốn) quân vị hình tròn, một m t màu vàng, một m t màu trắng, 01 (một) bát, 01 (một) đĩa bằng sứ, người cầm cái đ t 04 quân vị đã chuẩn bị sẵn đ t lên trên đĩa, úp bát bát lại, người cầm cái xóc ba đ n bốn lần đ t bát, đĩa xuống, Quy định bên trái người cầm cái là cửa chẵn, bên phải người cầm cái là cửa lẻ. Cửa chẵn bốn quân vị trùng màu ho c hai quân vị màu trắng, hai quân vị màu vàng; cửa lẻ ba quân vị cùng màu trắng, một quân vị màu vàng và ngược, lại mọi người tự do đ t tiền đánh bạc cửa chẵn hay lẻ tùy ý. Sau khi người cầm cái ho c người bất kỳ mở bát người đánh có k t quả trùng trên đĩa, thắng được gấp đối số tiền đã đ t cược, người có k t quả không trùng trên đĩa, thua mất số tiền đã đ t cược (mọi người tự trả tiền thắng thua cho nhau). Mỗi ván các đối tượng bỏ tiền ra đánh bạc từ 50.000đ (năm mư i nghìn đ ng) - 1.000.000đ (một tri u đ ng). K t thúc ván đánh người cầm cái lại xóc cho mọi người đánh ván ti p theo. Trong vụ án đánh bạc trên Nông Văn Đ là người cầm cái đ ng thời c ng tham gia đánh bạc.
Các đối tượng đánh bạc đ n 22 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Công an huy n B phát hi n lập biên bản bắt quả tang như đã nêu ở trên. Cùng ngày, C quan cảnh sát điều tra Công an huy n B đã tạm giữ hình sự các đối tượng: Liễu Văn T; Hứa Phúc L; La Văn H; Hoàng Văn T1 về hành vi đánh bạc. Một số đối tượng lợi dụng đêm tối, địa hình đ i dốc đã bỏ chạy. Đ n ngày 10/11/2022, Lý Văn N, Lý Hữu T2, Nông Văn Đ đ n C quan Cảnh sát điều tra Công an huy n B đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi đánh bạc của bản thân. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc là: 19.410.000đ (mười ch n tri u bốn trăm mười nghìn đ ng) g m số tiền các bị cáo mang theo đánh bạc 7.910.000đ (bảy tri u ch n trăm mười nghìn đ ng) và tiền các bị cáo vay, nợ để đánh bạc là 11.500.000đ (mười một tri u, năm trăm nghìn đ ng). Cụ thể như sau: Hoàng Văn T1 mang theo 4.000.000đ (bốn tri u đ ng) đánh thua h t tiền T1 vay của Nông Văn Đ 2.000.000đ (hai tri u đ ng) đánh thua h t tiền, T1 ti p tục vay Đ 5.000.000đ (năm tri u đ ng) sau đó thắng bạc, T1 đã trả lại Đ tổng số tiền 7.000.000đ (bảy tri u đ ng) vay trước đó. Tổng cộng số tiền T1 sử dụng đánh bạc là 11.000.000đ (mười một tri u đ ng); Hứa Phúc L mang theo 500.000đ (năm trăm nghìn đ ng) đánh bạc; Liễu Văn T mang theo 350.000đ (ba trăm năm mư i nghìn đ ng) đánh bạc; Lý Hữu T2 mang theo 1.000.000đ (một tri u đ ng) đánh bạc; Nông Văn Đ mang theo 1.300.000đ (Một tri u ba trăm nghìn đ ng) đánh bạc; Lý Văn N mang theo 760.000đ (bảy trăm sáu mư i nghìn đ ng) đánh bạc; Riêng bị cáo La Văn H khi tham gia đánh bạc không có tiền nên vay tiền của N đánh bạc, N thắng bạc đã đưa cho H vay mỗi lần số tiền 900.000đ (ch n trăm nghìn đ ng) tổng là năm lần, với tổng số tiền 4.500.000đ (bốn tri u năm trăm nghìn đ ng), số tiền H sử dụng đánh bạc là 4.500.000đ (bốn tri u, năm trăm nghìn). Tổng số tiền khi các bị cáo mang đi sử dụng đánh bạc là 7.910.000đ (bảy tri u ch n trăm mười nghìn đ ng). Khi bắt quả tang C quan Công an thu trên chi u số tiền là 6.050.000đ (sáu tri u không trăm năm mư i nghìn đ ng), các bị cáo khẳng định tất cả số tiền trên là của mọi người sử dụng để đánh bạc, riêng bị cáo Lý Hữu T2 khi bỏ chạy mang theo 200.000 (hai trăm nghìn) bị cáo đã chi tiêu h t không nhớ cụ thể nên không thu h i được. Còn số tiền 1.660.000đ (một tri u sáu trăm sáu mư i nghìn đ ng) các bị cáo bỏ chạy bị r i, C quan điều tra đã ti n hành truy tìm nhưng do địa hình rừng rậm không tìm thấy.
Ngày 25/11/2022, C quan Cảnh sát điều tra Công an huy n Bình Gia ra Quy t định trưng cầu giám định. Tại bản K t luận giám định số 45/KL-PC09 ngày 30/11/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh đã k t luận toàn bộ số tiền Vi t Nam g m: 6.050.000đ (sáu tri u không trăm năm mư i nghìn đ ng) trong phong bì niêm phong gửi giám định đều là tiền thật.
Tại bản Cáo trạng số: 08/CT-VKS-BG ngày 08/4/2023 của Vi n kiểm sát nhân dân huy n Bình Gia, tỉnh Lạng S n đã truy tố các bị cáo Liễu Văn T, La Văn H, Hoàng Văn T1, Hứa Phúc L, Lý Hữu T2, Lý Văn N và Nông Văn Đ về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại di n Vi n kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các bị cáo có đủ năng lực hành vi trách nhi m hình sự, hoàn toàn nhận bi t vi c đánh bạc sát phạt nhau dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền là vi phạm pháp luật, nhưng vì hám tiền bất ch nh đã coi thường pháp luật cố ý vi phạm pháp luật hình sự, với số tiền thu được trên năm tri u đ ng đã đủ y u tố cấu thành tội Đánh bạc, theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Nên đại di n Vi n kiểm sát nhân dân huy n Bình Gia, vẫn giữ nguyên quy t định truy tố, đề nghị Hội đ ng xét xử tuyên bố các bị cáo Liễu Văn T, La Văn H, Hoàng Văn T1, Hứa Phúc L, Lý Hữu T2, Lý Văn N và Nông Văn Đ đã phạm vào tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự và đề nghị xem xét mức độ, vai trò, hành vi phạm tội và các tình ti t tăng n ng, giảm nhẹ của từng bị cáo để xử phạt các bị cáo như sau:
Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 65; Điều 50, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Liễu Văn T từ 12 (mười hai) đ n 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách theo luật định.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 38; Điều 50, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Hứa Phúc L từ 06 (sáu) đ n 09 (ch n) tháng tù, thời hạn tù t nh từ ngày bị bắt đi thi hành án, được trừ đi thời gian đã tạm giam.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 50; khoản 1 Điều 17; Điều 58, Điều 65; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt các bị cáo Lý Văn N, Nông Văn Đ từ 18 (mười tám) đ n 24 (hai mư i tư) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách theo luật định.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 50; khoản 1 Điều 17; Điều 58, Điều 65; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Văn T1 từ 09 (ch n) đ n 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách theo luật định; xử phạt các bị cáo La Văn H, Lý Hữu T2 từ 06 (sáu) đ n 09 (ch n) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách theo luật định.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo do các bị cáo không có tài sản để bảo đảm thi hành án, các bị cáo đa số đều thuộc di n hộ cận nghèo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy các vật dụng, dụng cụ dùng đánh bạc; tịch thu số tiền 6.050.000 đ ng (sáu tri u không trăm năm mư i nghìn đ ng) thu giữ trên chi u bạc sung công quỹ Nhà nước. Đối với 04 chi c xe máy của Nông Văn Đ, Liễu Văn T, La Văn H, Lý Văn T3 và 06 chi c đi n thoại di dộng của Nông Văn Đ, Hứa Phúc L, La Văn H, Lý Văn N, Hoàng Văn T1, Liễu Văn T không liên quan đ n hành vi phạm tội nên trả lại cho chủ sở hữu. Xác nhận c quan điều tra đã trả lại 01 chi c xe mô tô cho chủ sở hữu là anh Lý Văn T3. Truy thu số tiền 200.000 đ ng (Hai trăm nghìn đ ng) của bị cáo Lý Hữu T2 để sung công quỹ Nhà nước.
Về án ph : Các bị cáo phải chịu án ph hình sự s thẩm theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo Hứa Phúc L và Hoàng Văn T1 không có ý ki n về tội danh và hình phạt mà Vi n kiểm sát đề nghị, chỉ đề nghị Hội đ ng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt với mức án thấp nhất cho các bị cáo.
Các bị cáo không có ý ki n tranh luận với Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng các bị cáo chỉ xin Hội đ ng xét xử cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên c sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài li u trong h s vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quy t định tố tụng: Hành vi, quy t định tố tụng của c quan ti n hành tố tụng và của người ti n hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hi n đúng quy định của pháp luật Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo không có ý ki n, khi u nại về hành vi, quy t định của người ti n hành tố tụng nên các hành vi, quy t định tố tụng của người ti n hành tố tụng đã thực hi n có trong h s là hợp pháp.
Về sự vắng m t của người làm chứng không làm ảnh hưởng đ n vi c xét xử vụ án vì trong h s vụ án đã có đủ lời khai nên Hội đ ng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự để ti p tục xét xử vụ án.
Về hành vi phạm tội, chứng cứ buộc tội đối với bị cáo: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại c quan điều tra phù hợp với lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng các vật chứng và các chứng cứ, tài li u khác có trong h s , cụ thể: Trong khoảng thời gian từ h n 19 giờ ngày đ n 22 giờ 30 phút ngày 08/11/2022, tại khu M thuộc thôn K, xã H, huy n B, tỉnh Lạng S n, các đối tượng: Liễu Văn T, La Văn H, Hoàng Văn T1, Hứa Phúc L, Lý Hữu T2, Lý Văn N, Nông Văn Đ có hành vi đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa, sát phạt nhau bằng tiền Ngân hàng Nhà nước Vi t Nam. Trong đó Liễu Văn T là người khởi xướng, chuẩn bị công cụ đánh bạc, Nông Văn Đ là người cầm cái xóc cho mọi người đánh cho đ n khi bị phát hi n. Tổng số tiền Khi bắt quả tang C quan Công an thu trên chi u số tiền là 6.050.000đ (sáu tri u không trăm năm mư i nghìn đ ng) – có đủ căn cứ xác định đây ch nh là số tiền do các đối tượng sử dụng để đánh bạc, 01 (một) bộ dụng cụ đánh bạc g m: 01 (một) khăn màu trắng h ng, 01 (một) bát sứ màu trắng; 04 (bốn) quân vị hình tròn một m t màu trắng, một m t màu vàng cùng một số đ vật khác có liên quan là các vật chứng thu giữ được khi công an bắt quả tang và các bị cáo đều thừa nhận là dụng cụ dùng để đánh bạc nên có căn cứ xác định đây là vật chứng mà các bị cáo dùng để đánh bạc.
Khi thực hi n hành vi phạm tội các bị cáo đều là người đã thành niên, hoàn toàn nhận bi t được hành vi đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa, sát phạt nhau bằng tiền là vi phạm pháp luật, trực ti p xâm phạm đ n trật tự công cộng, gây mất an ninh trật tự tại địa phư ng nhưng vẫn cố ý thực hi n. Với số tiền thu trên chi u bạc là 6.050.000đ (sáu tri u không trăm năm mư i nghìn đ ng) đã đủ y u tố cấu thành tội Đánh bạc quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự, nên quy t định truy tố của Vi n kiểm sát nhân dân huy n Bình Gia là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan.
Về nhân thân: Các bị cáo Liễu Văn T, Hứa Phúc L, Lý Văn N và Nông Văn Đ có nhân thân xấu. Bị cáo Liễu Văn T: Ngày 30/09/2011, bị Công an huy n V ra quy t định xử phạt vi phạm hành ch nh về hành vi đánh bạc, hình thức phạt tiền, số tiền 1.500.000đ (một tri u năm trăm nghìn đ ng). Bị cáo Hứa Phúc L: Tháng 01/1996, bị Công an huy n B xử phạt 2.000.000 đ ng (hai tri u đ ng) về hành vi Buôn bán thuốc nổ. Ngày 09/6/2010, bị Ủy ban nhân dân huy n B ra Quy t định xử phạt vi phạm hành ch nh về hành vi Khai thác khoáng sản trái phép, hình thức phạt tiền, số tiền 10.000.000 đ ng (Mười tri u đ ng). Bị cáo Lý Văn N: Ngày 12/01/2011, bị Tòa án nhân dân huy n B, tỉnh Lạng S n xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 16/3/2011, bị Tòa án nhân dân huy n C, tỉnh Lạng S n xử phạt 06 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 28/8/2012, bị Tòa án nhân dân huy n Y, tỉnh Bắc Giang xử phạt 24 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 19/01/2016, bị Tòa án nhân dân huy n B, tỉnh Lạng S n xử phạt 24 tháng tù giam về tội Đánh bạc. Bị cáo Nông Văn Đ: Ngày 12/01/2011, bị Tòa án nhân dân huy n B, tỉnh Lạng S n xử phạt 08 tháng tù cho hưởng án treo về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 12/02/2018, bị Công an huy n B ra Quy t định xử phạt vi phạm hành ch nh về hành vi Đánh bạc, bằng hình thức phạt tiền, mức phạt tiền 1.500.000 đ ng (Một tri u năm trăm nghìn đ ng). Các bị cáo còn lại đều có nhân thân tốt.
Về tiền án, tiền sự: Bị cáo Hứa Phúc L có 01 tiền án: Ngày 20/3/1998, bị Tòa án nhân dân huy n B xử phạt 18 tháng tù giam về tội Mua bán thuốc nổ trái phép. Do đ n ngày 24/02/2023, bị cáo mới đ n Chi cục Thi hành án dân sự huy n B, tỉnh Lạng S n chấp hành khoản tiền án ph , hình phạt bổ sung và số tiền thu lợi bất ch nh nên bị cáo chưa được xóa án t ch theo quy định. Các bị cáo còn lại đều không có tiền án, tiền sự.
Về tình ti t tăng n ng, giảm nhẹ trách nhi m hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân và tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải là tình ti t giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Liễu Văn T, La Văn H, Hoàng Văn T1, Lý Hữu T2 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp t nghiêm trọng, đây là các tình ti t giảm nhẹ trách nhi m hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Hứa Phúc L có bố đẻ là Hứa Văn Th được Hội đ ng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Vi t Nam t ng Huân chư ng kháng chi n hạng Ba, mẹ đẻ là Mai B ch V được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Vi t Nam t ng Huân chư ng kháng chi n hạng Nhì. Bị cáo Lý Văn N có ông nội là Lý Đình L được Hội đ ng nhà nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Vi t Nam t ng Huân chư ng kháng chi n hạng Nhất, có bác ruột là Lý Văn G là Li t sĩ, hi n gia đình bị cáo đang thờ cúng Li t sĩ Lý Văn Giang, ngày 10/02/2022, bị cáo đã ủng hộ phòng, chống dịch COVID – 19 tại Ủy ban nhân dân xã H1 với số tiền 2.000.000 đ ng (Hai tri u đ ng). Bị cáo Hoàng Văn T1 có bố là Hoàng Văn H được Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo t ng Kỷ ni m chư ng vì sự nghi p giáo dục. Ngày 05/4/2023, bị cáo Nông Văn Đ đã ủng hộ chư ng trình xây dựng Nông thôn mới tại xã H với số tiền 1.000.000 đ ng (Một tri u đ ng). Đây là tình ti t giảm nhẹ trách nhi m hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo đều sinh sống tại xã có điều ki n kinh t - xã hội đ c bi t khó khăn. Bị cáo Hứa Phúc L có tình ti t tăng n ng là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo khác không có tình ti t tăng n ng trách nhi m hình sự nào.
Xem xét, đánh giá vai trò, mức độ phạm tội của từng bị cáo thấy:
Bị cáo Hứa Phúc L tham gia đánh bạc từ đầu với số tiền sử dụng 500.000 đ ng, cầm đ n pin soi sáng phục vụ đánh bạc, bị cáo có 01 tiền án, đ ng thời có nhân thân xấu, bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lại ti p tục hành vi phạm tội. Cho nên vi c cách ly bị cáo Hứa Phúc L ra ngoài xã hội một thời gian, đủ để bị cáo cải tạo sau này trở thành công dân tốt có ch cho gia đình và xã hội là cần thi t.
Đối với các bị cáo Hoàng Văn T1, Lý Văn N, La Văn H, Nông Văn Đ, Lý Hữu T2 và Liễu Văn T: Bị cáo Hoàng Văn T1 chỉ tham gia đánh bạc đ n thuần, sử dụng 11.000.000 đ ng (mười một tri u đ ng), tuy nhiên số tiền dùng để đánh bạc lớn. Bị cáo Lý Văn N tham gia đánh bạc với số tiền 760.000 đ ng nhưng là người cho La Văn H vay tiền đánh bạc, cầm đ n soi sáng phục vụ đánh bạc, tuy nhiên bị cáo không được hưởng lợi gì từ vi c đó. Bị cáo La Văn H chỉ tham gia đánh bạc đ n thuần, sử dụng 4.500.000 đ ng (bốn tri u năm trăm nghìn đ ng), tuy nhiên số tiền dùng để đánh bạc lớn, chỉ sau bị cáo Hoàng Văn T1. Bị cáo Nông Văn Đ sử dụng 1.300.000 đ ng và là người cầm cái xóc cho mọi người đánh bạc, đ ng thời cho Hoàng Văn T1 vay tiền để đánh bạc, tuy nhiên bị cáo không được hưởng lợi gì từ vi c đó. Bị cáo Lý Hữu T2 chỉ tham gia đánh bạc đ n thuần, sử dụng 1.000.000 đ ng (một tri u đ ng) để đánh bạc. Đối bị cáo Liễu Văn T chỉ nảy sinh ý định đánh bạc khi các bị cáo g p nhau, mang t nh bộc phát nhưng là người khởi xướng và chuẩn bị công cụ để đánh bạc, cầm đ n soi sáng cho các bị cáo đánh bạc. Tuy nhiên xét vi c khởi xướng, chuẩn bị công cụ không phải vì mục đ ch lợi nhuận, h n nữa các bị cáo đều khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, chưa có tiền án, tiền sự, có n i cư trú rõ ràng nên không nhất thi t cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà để cho các bị cáo cải tạo tại địa phư ng c ng đủ để giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt: Từ những nhận định đánh giá trên, căn cứ khoản 1 Điều 50 Bộ luật Hình sự, Hội đ ng xét xử thấy cần xử lý với hành vi, vai trò mức độ phạm tội của từng bị cáo. Tuy nhiên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với các bị cáo lần đầu nhất thời phạm tội, có nhân thân tốt, có sự ăn năn hối cải để thể hi n sự khoan h ng của pháp luật.
Đối với bị cáo Hứa Phúc L có nhân thân xấu, có 01 tiền án về tội “Mua bán thuốc nổ trái phép” mà vẫn ti p tục tái phạm, đây là tình ti t tăng n ng trách nhi m hình sự. Do vậy cần thi t phải phạt tù giam để bị cáo cải tạo sau này trở thành công dân tốt có ý thức chấp hành pháp luật.
Đối với các bị cáo Hoàng Văn T1, Lý Văn N, La Văn H, Nông Văn Đ, Lý Hữu T2 và Liễu Văn T tham gia đánh bạc do hám lợi, không có tiền án, tiền sự, có nhiều tình ti t giảm nhẹ, không có tình ti t tăng n ng trách nhi m hình sự, có n i cư trú rõ ràng nên cần xử phạt tùy vào mức độ phạm tội của từng bị cáo. Căn cứ Nghị quy t số: 02/2018/NQ-HĐTP-TANDTC ngày 15/5/2018 và Nghị Quy t số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đ ng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn, quy định về điều ki n cho hưởng án treo thì các bị cáo có đủ điều ki n. Vì vậy, không cần bắt các bị cáo cách ly khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo được hưởng án treo và giao các bị cáo cho ch nh quyền địa phư ng n i thường trú để giám sát, giáo dục c ng đủ điều ki n để giúp các bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo phạm tội đánh bạc đều có mục đ ch, động c vụ lợi, lẽ ra phải buộc các bị cáo nộp một khoản tiền sung quỹ Nhà nước theo khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, các bị cáo đều sinh sống tại xã có điều ki n kinh t - xã hội đ c bi t khó khăn, không có công vi c ổn định, không có tài sản riêng để bảo đảm vi c thi hành án phạt tiền, nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo là có căn cứ.
Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy các vật dụng, dụng cụ dùng đánh bạc; tịch thu số tiền 6.050.000 đ ng (sáu tri u không trăm năm mư i nghìn đ ng) thu giữ trên chi u bạc sung công quỹ Nhà nước. Đối với 04 chi c xe máy của Nông Văn Đ, Liễu Văn T, La Văn H, Lý Văn T3 và 06 chi c đi n thoại di dộng của Nông Văn Đ, Hứa Phúc L, La Văn H, Lý Văn N, Hoàng Văn T1, Liễu Văn T không liên quan đ n hành vi phạm tội nên trả lại cho chủ sở hữu. Xác nhận c quan điều tra đã trả lại 01 chi c xe mô tô cho chủ sở hữu là anh Lý Văn T3. Truy thu số tiền 200.000 đ ng (Hai trăm nghìn đ ng) của bị cáo Lý Hữu T2 để sung công quỹ Nhà nước.
Về án ph : Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 21, 23 Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về án ph , l ph Toà án. Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đ ng (hai trăm nghìn đ ng) tiền án ph hình sự s thẩm, sung ngân sách Nhà nước.
Các bị cáo không có ý ki n tranh luận và đều nhận tội như Cáo trạng đã truy tố, lời nói sau cùng các bị cáo đều xin Hội đ ng xét xử xem xét cho được hưởng mức án nhẹ nhất.
Về đề nghị của Đại di n Vi n kiểm sát: Quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà c bản phù hợp với nhận định của Hội đ ng xét xử và quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Về đề nghị của Luật sư trợ giúp pháp lý và Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho các bị cáo: Quan điểm đề nghị của Luật sư, Trợ giúp viên tại phiên toà c bản phù hợp với nhận định của Hội đ ng xét xử và quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 321; khoản 1 Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hứa Phúc L;
Căn cứ khoản 1 Điều 321; khoản 1 Điều 17; Điều 50; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quy t số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quy t số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022, sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quy t số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đ ng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo đối với các bị cáo Hoàng Văn T1, La Văn H, Lý Hữu T2, Liễu Văn T;
Căn cứ khoản 1 Điều 321; khoản 1 Điều 17; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quy t số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quy t số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022, sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quy t số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đ ng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo đối với các bị cáo Nông Văn Đ, Lý Văn N;
Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về án ph , l ph Toà án;
1. Tuyên bố các bị cáo: Hứa Phúc L, Lý Văn N, Nông Văn Đ, Liễu Văn T, Hoàng Văn T1, La Văn H, và Lý Hữu T2 phạm tội “Đánh bạc”.
- Xử phạt bị cáo Hứa Phúc L 06 (sáu) tháng tù, được trừ đi thời gian đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/11/2022 đ n ngày 30/12/2022. Thời hạn chấp hành hình phạt tù t nh từ ngày bị cáo đi thi hành án.
- Xử phạt bị cáo Lý Văn N 18 (mười tám) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 36 (ba mư i sáu) tháng, t nh từ ngày tuyên án s thẩm ngày 24/5/2023.
- Xử phạt bị cáo Nông Văn Đ 18 (mười tám) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 36 (ba mư i sáu) tháng, t nh từ ngày tuyên án s thẩm ngày 24/5/2023.
- Xử phạt bị cáo Liễu Văn T 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (hai mư i tư) tháng, t nh từ ngày tuyên án s thẩm 24/5/2023.
- Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T1 09 (ch n) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, t nh từ ngày tuyên án s thẩm ngày 24/5/2023.
- Xử phạt bị cáo La Văn H 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng, t nh từ ngày tuyên án s thẩm ngày 24/5/2023.
- Xử phạt bị cáo Lý Hữu T2 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (mư i hai) tháng, t nh từ ngày tuyên án s thẩm ngày 24/5/2023.
Giao bị cáo Hoàng Văn T1 cho Ủy ban nhân dân xã H1, huy n B, tỉnh Lạng S n giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao các bị cáo Lý Văn N, La Văn H, Nông Văn Đ, Lý Hữu T2 và Liễu Văn T cho Ủy ban nhân dân xã H, huy n B, tỉnh Lạng S n giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quy t định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được cho hưởng án treo thay đổi n i cư trú thì được thực hi n theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
2. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 6.050.000đ (Sáu tri u không trăm năm mư i nghìn đ ng) thu giữ trên chi u bạc.
- Truy thu số tiền 200.000 đ ng (hai trăm nghìn đ ng) của bị cáo Lý Hữu T2 để sung ngân sách Nhà nước.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) khăn màu trắng h ng dài 70 cm, rộng 32 cm (tình trạng c , đã qua sử dụng); 01 (một) bát sứ màu trắng (tình trạng c , đã qua sử dụng); 01 (một) đĩa sứ màu trắng có hoa văn (tình trạng c , đã qua sử dụng); 04 (bốn) quân vị hình tròn một m t màu trắng, một m t màu vàng; 01 (một) kéo bằng kim loại, phần tay cầm bọc bằng nhựa màu xanh (tình trạng c , đã qua sử dụng); 01 (một) đ n pin màu đen loại có dây (tình trạng c , đã qua sử dụng); 01 (một) đ n pin màu trắng, h ng dài 11,4 cm (tình trạng c , đã qua sử dụng).
- Trả lại cho bị cáo Nông Văn Đ 01 (một) xe mô tô nhãn hi u HONDA Wave, màu đen, BKS 12B1 - 196.38 (đã qua sử dụng, không kiểm tra chi ti t bên trong); 01 (một) đi n thoại nhãn hi u Vivo màu tím có ốp bên ngoài bằng nhựa màu đen (đã qua sử dụng, không kiểm tra chi ti t bên trong).
- Trả lại cho bị cáo La Văn H 01 (một) xe mô tô nhãn hi u HONDA Wave RSX, màu trắng, BSK 12B1 – 047.23 (đã qua sử dụng, không kiểm tra chi ti t bên trong); 01 (một) đi n thoại màu đen, màn hình bị nứt, vỡ (đã qua sử dụng, không kiểm tra chi ti t bên trong).
- Trả lại cho bị cáo Liễu Văn T 01 (một) xe mô tô nhãn hi u SUZUKI Smash, màu xanh, BKS 12F9 – 9360 (đã qua sử dụng, không kiểm tra chi ti t bên trong); 01 (một) đi n thoại nhãn hi u OPPO màu xanh, ốp bằng nhựa, da màu đen (đã qua sử dụng, không kiểm tra chi ti t bên trong ).
- Trả lại cho bị cáo Hứa Phúc L 01 (một) đi n thoại nhãn hi u Vivo màu trắng có hình dán màu vàng, móc sắt ph a sau ốp lưng (đã qua sử dụng, không kiểm tra chi ti t bên trong).
- Trả lại cho bị cáo Lý Văn N 01 (một) đi n thoại nhãn hi u Iphone màu h ng bị nứt, vỡ phần dán cường lực (đã qua sử dụng, không kiểm tra chi ti t bên trong).
- Trả lại cho bị cáo Hoàng Văn T1 01 (một) đi n thoại nhãn hi u Samsung màu xanh ốp bên ngoài có dòng chữ TÀI LỘC, Minh Tú (đã qua sử dụng, không kiểm tra chi ti t bên trong).
(Các vật chứng trên hi n đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huy n Bình Gia, tỉnh Lạng S n theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/4/2023).
- Xác nhận C quan Cảnh sát điều tra Công an huy n Bình Gia đã trả lại 01 (một) xe mô tô nhãn hi u YAMAHA Sirius, màu vàng đen, BKS 12B1-021.29 (đã qua sử dụng, không kiểm tra chi ti t bên trong) cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Lý Văn T4.
4. Buộc các bị cáo Hứa Phúc L, Lý Văn N, Nông Văn Đ, Liễu Văn T, Hoàng Văn T1, La Văn H và Lý Hữu T2, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đ ng (Hai trăm nghìn đ ng) tiền án ph hình sự s thẩm, sung ngân sách Nhà nước.
5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có m t có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng S n; - VKSND tỉnh Lạng S n; - Sở Tư pháp tỉnh Lạng S n; - VKSND huy n Bình Gia; - Công an huy n Bình Gia; - Chi cục THADS huy n Bình Gia; - Các bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu HS, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Hoàng Văn Khi |