vanban.org

Bản án 11/2023/HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bùi Hạnh D ly hôn Nguyễn Thanh H"
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TRẢNG BÀNG
TỈNH TÂY NINH
——————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2023/HNGĐ-ST.
Ngày 28-3-2023
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Thư.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Quốc.

Ông Nguyễn Tấn Minh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Hảnh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thướng - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 172/2022/TLST- HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2023; giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Bùi Hạnh D, sinh năm 1987.

Cư trú tại: khu phố A, phường T, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

Tạm trú: khu phố C, thị trấn D, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.

- Bị đơn: anh Nguyễn Thanh H, sinh năm 1981.

Cư trú tại: khu phố A, phường T, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

(Chị D, anh H vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn - chị Bùi Hạnh D trình bày:

Chị và anh Nguyễn Thanh H chung sống với nhau từ năm 2012, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện Trảng Bàng (nay là phường T, thị xã Trảng Bàng), tỉnh Tây Ninh. Sau khi cưới vợ chồng về chung sống cùng gia đình của anh H tại khu phố A, phường T, chị làm công nhân, anh H làm công việc tự do. Cuộc sống vợ chồng bắt đầu mâu thuẫn từ tháng 7-2022, nguyên nhân là do tính tình của vợ, chồng không còn phù hợp với nhau, có mâu thuẫn trong việc nuôi con, giữa chị và gia đình anh H cũng có nhiều mâu thuẫn, không thể chung sống hoà hợp, thường xuyên gây gỗ nhau, không còn hạnh phúc. Vợ chồng chị đã tự ly thân từ tháng 9-2022 đến nay, chị đã về nhà cô ruột của chị sống tại khu phố C, thị trấn D, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh. Từ khi ly thân, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, tình cảm vợ chồng phai nhạt, không ai có thiện chí hàn gắn. Nay chị yêu cầu được ly hôn anh H.

Về con chung: vợ chồng chị có 01 người con chung là cháu Nguyễn Khánh V, sinh ngày 24-12-2012 hiện đang theo sống cùng với anh H. Cháu rất khỏe mạnh, phát triển bình thường, không bị bệnh tật, dị tật bẩm sinh. Khi ly hôn, chị yêu cầu anh H giao cháu V cho chị được trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: vợ chồng chị không nợ ai.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn - anh Nguyễn Thanh H trình bày: anh thống nhất với lời trình bày của chị D về thời gian chung sống, có đăng ký kết hôn. Vợ chồng anh bắt đầu phát sinh mâu thuẫn từ giữa năm 2022, nguyên nhân là do tính tình của vợ chồng không phù hợp với nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên gây gỗ nhau và đã tự ly thân từ tháng 7-2022 đến nay, không ai có thiện chí hàn gắn, tiếp tục chung sống cùng nhau. Nay anh đồng ý ly hôn chị D.

Về con chung: anh và chị D có 01 người con chung là cháu Nguyễn Khánh V, sinh ngày 24-12-2012. Khi ly hôn, anh đồng ý giao cháu V cho chị D được trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, anh không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: vợ chồng anh không nợ ai.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh:

- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56, Điều 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình xem xét quyết định:

Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Bùi Hạnh D đối với anh Nguyễn Thanh H. Chị D được ly hôn anh H.

Về con chung: giao cháu Nguyễn Khánh V, sinh ngày 24-12-2012 cho chị D được trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận chị D không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: chị D, anh H không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết.

Về án phí: chị D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:

Về tố tụng: chị Bùi Hạnh D và anh Nguyễn Thanh H vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vụ án.

Về quan hệ hôn nhân:

Chị D và anh H chung sống với nhau vào năm 2012 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Do đó, hôn nhân của anh, chị là hợp pháp. Cuộc sống vợ chồng ban đầu hạnh phúc và dần xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân là do giữa vợ, chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên gây gỗ nhau, không còn quan tâm đến nhau và vợ chồng chị D, anh H đã tự ly thân, không còn chung sống với nhau, không ai có thiện chí hàn gắn. Nay chị D yêu cầu ly hôn và anh H cũng đồng ý ly hôn chị D.

Xét thấy, chị D và anh H tự nguyện thuận tình ly hôn là phù hợp theo quy định tại Điều 55 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Tuy nhiên, do chị D và anh H đều vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị D đối với anh H, cho chị D được ly hôn anh H là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật.

Về con chung:

Cháu Nguyễn Khánh V, sinh ngày 24-12-2012 hiện đang theo sống cùng anh H. Khi ly hôn, chị D yêu cầu anh H giao cháu V cho chị D được nuôi dưỡng và anh H cũng đồng ý. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án, cháu V cũng có nguyện vọng được theo sống cùng chị D. Do đó, Hội đồng xét xử giao cháu V cho chị D được nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Ghi nhận chị D không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung: chị D, anh H không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết.

Về nợ chung: chị D, anh H trình bày không có nợ chung.

Như phân tích trên thì đề nghị của Viện kiểm sát về quan điểm giải quyết vụ án là có cơ sở chấp nhận.

Án phí: chị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo quy định tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân:

Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Bùi Hạnh D đối với anh Nguyễn Thanh H.

Chị Bùi Hạnh D được ly hôn anh Nguyễn Thanh H.

2. Về con chung:

Anh Nguyễn Thanh H có nghĩa vụ giao cháu Nguyễn Khánh V, sinh ngày 24-12-2012 cho chị Bùi Hạnh D được trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Ghi nhận chị D không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: chị D, anh H không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết.

4. Về nợ chung: chị D, anh H trình bày không có nợ chung.

5. Án phí: chị Bùi Hạnh D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0026926 ngày 24 tháng 11 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Chị D đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.

6. Chị D, anh H có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ