- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm"
- Tòa quyết gì? Cho chị H được ly hôn anh D.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2023/HNGĐ-ST Ngày 06-01-2023 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN,THÀNH PHỐHẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Văn Sóng
Bà Ngô Thị Thu Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thanh Thuỷ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện TN, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện TN, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TN, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 302/2022/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2022 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 280/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 251/2022/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị H, sinh năm 1980; nơi cư trú: Thôn Rúp, xã T, huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Bị đơn: Anh D, sinh năm 1980; nơi cư trú: Thôn Rúp, xã T, huyện TN, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 16 tháng 3 năm 2022 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà nguyên đơn là chị H trình bày:
Chị kết hôn anh D vào năm 2009 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện TN, thành phố Hải Phòng. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau tại thôn Rúp, xã T, huyện TN, thành phố Hải Phòng. Quá trình vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống và do anh D có quan hệ ngoại tình với người phụ nữ khác, không có trách nhiệm với gia đình, vợ con nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau. Mâu thuẫn vợ chồng căng thẳng nhất từ tháng 4 năm 2022. Nay chị H khẳng định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh D không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh D.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Gsinh ngày 25 tháng 10 năm 2009 và Asinh ngày 12 tháng 7 năm 2012. Khi ly hôn chị H yêu cầu Tòa án giải quyết giao cả 02 con chung tên Gsinh ngày 25 tháng 10 năm 2009 và Asinh ngày 12 tháng 7 năm 2012 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H yêu cầu anh D phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.500.000 đồng cho mỗi con.
Về tài sản chung: Vợ chồng có tài sản chung gồm nhà xây dựng trên đất tại thôn Rúp, xã T, huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng. Khi ly hôn chị H đề nghị Toà án để vợ chồng tự thoả thuận phân chia, nếu không tự thoả thuận phân chia được thì sẽ yêu cầu Toà án giải quyết sau.
Bị đơn là anh D đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai để anh D có mặt tại phiên tòa nhưng anh D vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị H.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện TN, thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và ý kiến về việc giải quyết vụ án. Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn là chị H trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn là anh D không tuân thủ quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị H. Về hôn nhân: Cho chị H được ly hôn anh D. Về con chung: Giao 02 con chung tên Gsinh ngày 25 tháng 10 năm 2009 và Asinh ngày 12 tháng 7 năm 2012 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Anh D phải có nghĩa vụ cấp dưỡng mỗi tháng 1.500.000 đồng cho mỗi con cho đến khi mỗi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết. Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, anh D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Bị đơn là anh D có nơi cư trú tại thôn Rúp, xã T, huyện TN, thành phố Hải Phòng, Toà án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập để anh D có mặt tại Toà án trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị H nhưng anh D vắng mặt không có lý do. Tài liệu xác minh có trong hồ sơ vụ án thể hiện anh D có đăng ký hộ khẩu thường trú và vẫn đang thường xuyên sinh sống tại thôn Rúp, xã T, huyện TN, thành phố Hải Phòng. Toà án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai để anh D có mặt tại phiên toà trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị H nhưng anh D vắng mặt tại phiên toà không có lý do. Vì vậy căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là anh D.
Về quan hệ hôn nhân: Xét quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh D kết hôn với nhau vào năm 2009 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện TN, thành phố Hải Phòng là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chị H và anh D chung sống với nhau tại thôn Rúp, xã T, huyện TN, thành phố Hải Phòng. Quá trình vợ chồng chị H và anh D chung sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chị H trình bày do vợ chồng bất đồng quan điểm sống và do anh D có quan hệ ngoại tình với người phụ nữ khác, không có trách nhiệm với gia đình, vợ con nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau. Nay chị H khẳng định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh D không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh D. Bị đơn là anh D đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lần thứ hai nhưng anh D vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để anh D có mặt tại phiên toà trình bày ý kiến đối với yêu cầu xin ly hôn của chị H nhưng anh D vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, không có ý kiến đối với yêu cầu xin ly hôn của chị H. Tài liệu xác minh có trong hồ sơ vụ án thể hiện quá trình vợ chồng chị H và anh D chung sống hòa thuận đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, mâu thuẫn vợ chồng căng thẳng nhất từ tháng 4 năm 2022. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tin tưởng lẫn nhau về mặt tình cảm nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau. Như vậy thể hiện hôn nhân giữa chị H và anh D đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Mặt khác anh D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến phiên hòa giải và phiên tòa nhưng anh D vẫn vắng mặt không có lý do, không có ý kiến đối với yêu cầu xin ly hôn của chị H. Vì vậy căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị H về việc xin ly hôn anh D, cho chị H được ly hôn anh D.
Về con chung: Chị H và anh D có 02 con chung tên Gsinh ngày 25 tháng 10 năm 2009 và Asinh ngày 12 tháng 7 năm 2012. Khi ly hôn chị H yêu cầu Tòa án giải quyết giao cả 02 con cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Anh D không có ý kiến về con chung. Tuy nhiên việc giao con chung cho ai trực tiếp nuôi dưỡng thì cần xem xét để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên. Xét 02 con chung tên Gsinh ngày 25 tháng 10 năm 2009 và Asinh ngày 12 tháng 7 năm 2012 đều có nguyện vọng được ở cùng với mẹ là chị H, mặt khác anh D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến phiên hòa giải và phiên tòa nhưng anh D vẫn vắng mặt không có lý do, không có ý kiến đối với yêu cầu nuôi con của chị H. Vì vậy căn cứ Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị H, giao 02 con chung tên Gsinh ngày 25 tháng 10 năm 2009 và Asinh ngày 12 tháng 7 năm 2012 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H yêu cầu anh D phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.500.000 đồng. Xét yêu cầu của chị H là phù hợp với Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị H, buộc anh D phải có nghĩa vụ cấp dưỡng mỗi tháng 1.500.000 đồng cho con Gvà 1.500.000 đồng cho con Akể từ tháng 02 năm 2023 cho đến khi mỗi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung: Chị H trình bày vợ chồng có tài sản chung nhưng khi ly hôn chị H đề nghị Toà án để vợ chồng tự thoả thuận phân chia, nếu không tự thoả thuận phân chia được thì sẽ yêu cầu Toà án giải quyết sau. Anh D không có ý kiến về tài sản chung. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử :
1. Cho chị H được ly hôn anh D.
2. Về con chung: Giao 02 con chung tên Gsinh ngày 25 tháng 10 năm 2009 và Asinh ngày 12 tháng 7 năm 2012 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Anh D phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.500.000 đồng cho con Gvà 1.500.000 đồng cho con Akể từ tháng 02 năm 2023 cho đến khi mỗi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Kể từ ngày chị H có đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho đến khi thi hành án xong, anh D còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008179 ngày 03 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện TN, thành phố Hải Phòng, chị H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm. Anh D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - TAND thành phố Hải Phòng; - VKSND huyện TN; - Chi cục THADS huyện TN; - UBND xã T, huyện TN, thành phố Hải Phòng; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hiền |