vanban.org

Bản án 11/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ng đơn:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị Tường V được ly hôn anh Trần Trung Ng. Về con chung: Giao con Trần Thái B, sinh ngày 11/11/2015 cho anh Trần Trung Ng trực tiếp nuôi; giao con Trần Bảo N, sinh ngày 07/10/2018 cho chị Đỗ Thị Tường V trực tiếp nuôi đến khi mỗi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn do mâu thuẫn gia đình"
  • Tòa quyết gì? Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ng đơn:
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NGÔ QUYỀN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2023/HNGĐ-ST
Ngày 13-4-2023
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hậu.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Tư

Bà Phạm Thị Bấm

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền tham gia phiên tòa: Bà Tô Thị Hoài Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 111/2022/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2022 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 03 năm 2023 giữa các đương sự:

- Ng đơn: Chị Đỗ Thị Tường V; nơi ĐKHKTT: Số 17/37 đường N, phường Đ, quận N, thành phố H; nơi tạm trú: Số 56 đường V, phường H, quận L, thành phố H; có mặt.

- Bị đơn: Anh Trần Trung Ng; nơi cư trú: Số 17/37 đường N, phường Đ, quận N, thành phố H; vắng mặt (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 01/11/2022 và quá trình giải quyết vụ án, Ng đơn chị Đỗ Thị Tường V trình bày:

Chị và anh Trần Trung Ng kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được sự đồng ý của hai bên gia đình, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán Việt Nam, đăng ký kết hôn ngày 31/8/2016 tại Uỷ ban nhân dân phường Đồng Quốc Bình, quận Ngô Quyền, Hải Phòng.

Cuộc sống vợ chồng chị hạnh phúc thời gian đầu, sau đó xảy ra mâu thuẫn, Ng nhân do bất đồng quan điểm lối sống, tình cảm. Anh Ng không quan tâm đến vợ, có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, vì vậy vợ chồng thường xuyên cãi nhau, cuộc sống rất căng thẳng và không có hạnh phúc. Gia đình hai bên đã khuyên giải nhiều nhưng không có kết quả, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Anh chị đã sống ly thân từ năm 2020 không còn quan tâm gì đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Toà án cho chị được ly hôn anh Ng.

Về con chung: Chị và anh Ng có hai con chung là Trần Thái B, sinh ngày 11/11/2015 và Trần Bảo N, sinh ngày 07/10/2018. Chị đề nghị được nuôi con Trần Thái B và anh Ng sẽ nuôi cháu Trần Bảo N. Việc cấp dưỡng nuôi con, anh chị tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Trần Trung Ng trong quá trình giải quyết vụ án đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh vắng mặt tại các buổi hoà giải. Tuy nhiên lời khai của anh Ng tại Toà án thể hiện nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Anh xác nhận anh và chị Đỗ Thị Tường V lấy nhau trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán Việt Nam, đăng ký kết hôn ngày 31/8/2016 tại Uỷ ban nhân dân phường Đồng Quốc Bình, quận Ngô Quyền, Hải Phòng.

Cuộc sống vợ chồng anh chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, Ng nhân do bất đồng quan điểm, lối sống. Anh chị đã sống ly thân từ năm 2020 không còn quan tâm gì đến nhau. Nay anh đồng ý ly hôn với chị Vi và đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt anh.

Về con chung: Anh chị có hai con chung là Trần Thái B, sinh ngày 11/11/2015 và Trần Bảo N, sinh ngày 07/10/2018. Anh đồng ý để chị Vi nuôi con Trần Bảo N và anh nhận nuôi cháu Trần Thái B. Việc cấp dưỡng nuôi con, anh chị tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Kết quả xác minh tại địa phương nơi chị Vi, anh Ng sinh sống và ý kiến của những người thân trong gia đình cho thấy: Mẫu thuẫn vợ chồng anh chị đã trầm trọng, hai bên đã sống ly thân mỗi người một nơi từ năm 2020. Anh Ng hiện đang sống cùng cháu lớn là Trần Thái B taị địa chỉ số 17/37 đường Nguyễn Bình, phường Đồng Quốc Bình, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, chị Vi cùng cháu nhỏ là Trần Bảo N đã sinh sống ở nơi khác từ năm 2020.

Kiểm sát viên tại phiên tòa phát biểu: Quá trình thụ lý, xây dựng, lập hồ sơ vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các trình tự quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn anh Trần Trung Ng đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng vắng mặt tại phiên toà (đã có đơn xin giải quyết vắng mặt). Về nội dung vụ án: Xét mâu thuẫn của chị Vi và anh Ng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ng đơn, cho chị Vi được ly hôn với anh Ng; về con chung: Giao cháu Trần Thái B, sinh ngày 11/11/2015 cho anh Ng nuôi, giao cháu Trần Bảo N, sinh ngày 07/10/2018 cho chị Vi nuôi. Việc cấp dưỡng nuôi con, chị Vi không yêu cầu Toà án giải quyết. Về tài sản chung: Chị Vi không yêu cầu Toà án giải quyết. Chị Viphải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên toà, Tòa án nhận định:

- Về áp dụng pháp luật tố tụng:

[1] Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Trần Trung Ng có nơi cư trú trên địa bàn quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng anh Trung vắng mặt tại phiên toà và đã có đơn xin giải quyết vắng mặt. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vụ án vắng mặt bị đơn anh Ng.

- Về nội dung vụ án:

+ Về quan hệ hôn nhân:

Chị Đỗ Thị Tường V và anh Trần Trung Ng lấy nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 31/8/2016 tại Ủy ban nhân dân phường Đồng Quốc Bình, quận Ngô Quyền, Hải Phòng. Vì vậy, quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng chị Vi và anh Ng hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Ng nhân mâu thuẫn chủ yếu là do bất đồng quan điểm sống, không tin tưởng nhau về tình cảm. Mặc dù hai bên gia đình đã khuyên giải nhưng mâu thuẫn vợ chồng anh chị không cải thiện được. Hai bên đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay không còn quan hệ gì về kinh tế và tình cảm.

Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Vi và anh Ng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cần giải quyết cho chị Vi được ly hôn với anh Ng.

+ Về con chung:

Chị Vi và anh Ng có hai con chung là Trần Thái B, sinh ngày 11/11/2015 và Trần Bảo N, sinh ngày 07/10/2018. Mặc dù anh Ng không có mặt tại các phiên hoà giải tại Toà án nhưng quan điểm của anh Ng phù hợp với chị Vi và phù hợp với kết quả xác minh tại địa phương thể hiện, từ năm 2020 anh Ng là người trực tiếp nuôi cháu Bảo, chị Vi là người trực tiếp nuôi cháu Nam. Cả chị Vi và anh Ng đều đề nghị Toà án giao con Trần Thái B cho anh Ng nuôi, giao con Trần Bảo N cho chị Vi nuôi. Vì vậy căn cứ các điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu của chị Vi, giao con Trần Thái B, sinh ngày 11/11/2015 cho anh Ng nuôi; giao con Trần Bảo N, sinh ngày 07/10/2018 cho chị Vi nuôi. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, chị Vi không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

+ Về tài sản chung:

Chị Vi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

+ Về án phí:

Chị Vi phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 và các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ng đơn:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị Tường V được ly hôn anh Trần Trung Ng.

2. Về con chung: Giao con Trần Thái B, sinh ngày 11/11/2015 cho anh Trần Trung Ng trực tiếp nuôi; giao con Trần Bảo N, sinh ngày 07/10/2018 cho chị Đỗ Thị Tường V trực tiếp nuôi đến khi mỗi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị Vi không yêu cầu Toà án giải quyết.

3. Về tài sản chung: Chị Đỗ Thị Tường V không yêu cầu Toà án giải quyết.

4. Về án phí: Chị Đỗ Thị Tường V phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị Vi đã nộp tại Chi cục Thi hành án quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0006764 ngày 17/11/2022. Chị Đỗ Thị Tường V đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Ng đơn Chị Đỗ Thị Tường V có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị đơn anh Trần Trung Ng có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND quận Ngô Quyền;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Đương sự;

- Chi cục THADS quận Ngô Quyền;

- UBND xã B, huyện K, tỉnh T (ĐKKH ngàygày 04/10/2011);

- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

Lê Thị Hậu THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hậu

Cỡ chữ