- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án hôn nhân và gia đình giữa chị Th và anh Y"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Th và anh Nguyễn Khắc Y.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2023/HNGĐ-ST Ngày 13-3-2023 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Minh Hằng
Bà Mai Thị Duyên
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Huyền- Thẩm tra viên Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thiệm - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 3 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 129/2022/TLST-HNGĐ, ngày 21 tháng 12 năm 2022 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Th
ĐKHKTT và nơi ở: Số 7/450 Phủ Thượng Đ, phường Đông H 1, quận Hải A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Khắc Y
ĐKHKTT: Số 7/450 Phủ Thượng Đ, phường Đông H 1, quận Hải A, thành phố Hải Phòng.
Hiện đang chấp hành hình phạt tù tại: Đội 21-14, phân trại 2, Trại giam Xuân Nguyên; địa chỉ: Núi Pháp Cổ, xã Lại Xuân, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ghi ngày 10 tháng 12 năm 2022 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Th trình bày:
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Th và anh Nguyễn Khắc Y kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Ph, huyện Vĩnh B, thành phố Hải Phòng vào ngày 27/5/2017. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận đến khoảng tháng 10/2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do chị Th phát hiện anh Y có quan hệ ngoại tình với người phụ nữ tên là Cao Thị Hải A (địa chỉ của chị Hải A ở đâu, chị Th không biết). Anh Y và chị Hải A thường xuyên nhắn tin yêu đương qua điện thoại và đi chơi với nhau. Anh Y đã thừa nhận việc ngoại tình và hứa sẽ chấm dứt nhưng anh Y không thay đổi. Dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau, cuộc sống chung không hạnh phúc. Ngày 28/5/2021 anh Y bị bắt giam, ngày 09/9/2021 anh Y bị Tòa án nhân dân Quận Ngô Quyền, Hải Phòng xử phạt 06 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Hiện nay, anh Y đang chấp hành án tại Trại giam Xuân Nguyên. Nay, chị Th xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu ly hôn với anh Y.
Về nuôi con: Chị Th và anh Y có 02 con chung là Nguyễn Phương Ch, sinh ngày 09/10/2017 và Nguyễn Diễm Qu, sinh ngày 21/6/2019. Chị Th yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung. Việc cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Hiện nay, chị Th làm công việc tự do, thu nhập khoảng 10.000.000 đồng/tháng.
Về chia tài sản: Chị Th không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Bản tự khai ngày 14/02/2023, bị đơn là anh Nguyễn Khắc Y trình bày: Về điều kiện, hoàn cảnh kết hôn như trình bày của chị Th. Quá trình chung sống vợ chồng có bất đồng quan điểm sống. Anh Y vi phạm pháp luật vào ngày 28/5/2021, phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, hiện đang chấp hành án phạt tù. Chị Th khai nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do anh Y có quan hệ ngoại tình với chị Cao Thị Hải A là không đúng. Anh Y đồng ý ly hôn.
Về nuôi con: Vợ chồng có 02 con chung như lời trình bày của chị Th. Anh Y mong muốn được nuôi con Nguyễn Diễm Qu, đồng ý cho chị Th nuôi con Nguyễn Phương Ch.
Về chia tài sản: Anh Y không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên có ý kiến như sau:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định.
Quan điểm giải quyết vụ án: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng, Tòa án nhân dân quận Hải An nhận định:
- Về tố tụng:
Về thẩm quyền: Ngày 19/12/2022, chị Nguyễn Thị Th nộp đơn khởi kiện anh Nguyễn Khắc Y về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn. Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hải An theo khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, các đương sự vắng mặt có đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Th và anh Nguyễn Khắc Y kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tuân theo các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình, nên là hôn nhân hợp pháp. Xét mâu thuẫn của vợ chồng chị Th, anh Y phát sinh do bất đồng quan điểm sống, chị Th nghi ngờ anh Y có quan hệ ngoại tình, không còn lòng tin, tình cảm với anh Y. Dẫn đến cuộc sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Th giữ nguyên yêu cầu ly hôn, anh Y cũng đồng ý. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Th.
Về nuôi con: Chị Th và anh Y có 02 con chung là Nguyễn Phương Ch, sinh ngày 09/10/2017 và Nguyễn Diễm Qu, sinh ngày 21/6/2019. Xét hiện tại anh Y đang phải chấp hành hình phạt tù, không có điều kiện để nuôi con. Chị Th có nơi ở, có công việc và thu nhập, có điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con. Vì vậy, căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình cần giao 02 con cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng. Trường hợp sau khi chấp hành xong hình phạt tù, anh Y có yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn thì sẽ được giải quyết bằng vụ án dân sự khác. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Th và anh Y đều không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Về chia tài sản: Chị Th và anh Y không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: Chị Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các điều 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Th và anh Nguyễn Khắc Y.
2. Về nuôi con: Giao 02 con chung là Nguyễn Phương Ch, sinh ngày 09/10/2017 và Nguyễn Diễm Qu, sinh ngày 21/6/2019 cho chị Nguyễn Thị Th trực tiếp nuôi dưỡng, đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Việc cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thỏa thuận, hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về chia tài sản: Hội đồng xét xử không giải quyết.
4. Về án phí: Chị Th phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) chị Thảo đã nộp, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004827 ngày 21/12/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND quận Hải An; - VKSND TP. Hải Phòng; - TAND TP. Hải Phòng; - Cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn; - Chi cục THA DS quận Hải An; - Lưu: HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Bích Thủy |