- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp về hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Cao Thị C và anh Lê Văn N.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THƯỜNG XUÂN TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2023/HNGĐ - ST Ngày 02 tháng 8 năm 2023 V/v: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình,ly hôn". |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THƯỜNG XUÂN, TỈNH THANH HOÁ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Tâm
Các hội thẩm nhân dân: Bà: Hà Thị Hòa và Ông Lê Quang Tùng
Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Vân Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thường Xuân tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Xuân không thuộc trường hợp tham gia phiên tòa:
Ngày 02 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thường Xuân tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 102/2023/TLST – HNGĐ ngày 08/6/2023 về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2023/QĐST- HNGĐ ngày 07/7/2023 giữa các đương sự:
+ Nguyên đơn: Chị Cao Thị C, sinh năm 1971 (có mặt);
+ Bị đơn: Anh Lê Văn N, sinh năm: 1969 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Thôn T1, xã XC, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hoá.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 25/5/2023; trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Cao Thị C trình bày:
Về hôn nhân: Chị Cao Thị C và anh Lê Văn N chung sống với nhau như vợ chồng từ tháng 10 năm 1993, trên cơ sở tự nguyện và có tổ chức lễ cưới theo phong tục của địa phương nhưng không đăng ký kết hôn. Vì không hiểu biết pháp luật nên chị C và anh N không làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Trong quá trình chung sống hạnh phúc được một thời gian 04 năm, từ năm 1997 trở lại đây thì phát sinh nhiều mâu thuẫn nguyên nhân là do anh N thường xuyên uống rượu về chửi bới, xúc phạm nên chị và anh N thường xuyên cãi cọ nhau, có lần anh N còn đánh chị. Trong cuộc sống sinh hoạt chị và anh N thường bất đồng quan điểm, chị C phải bỏ về bên ngoại trốn nhưng vì thương con, hai bên nội, ngoại đã khuyên giải cho anh chị quay về với nhau, vì thương con nên chị đã quay về sống cùng anh để chăm sóc con cái nhưng đến năm 2016 chị C không thể chịu đựng được nữa, chị đã đi làm ăn xa, khi về chị về ở với bố mẹ đẻ. Từ khi chị đi làm ăn xa chị C và anh N đã sống ly thân nhau tính đến nay khoảng 07 năm. Chị C xác định tình cảm giữa chị và anh N không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị C yêu cầu Toà án giải quyết không công nhận quan hệ giữa chị và anh N là vợ chồng.
Tại các Bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Lê Văn N trình bày:
Về hôn nhân: Anh Lê Văn N đồng ý với trình bày về phần kết hôn của chị Cao Thị C. Vì do không hiểu biết pháp luật nên anh N và chị C không đi đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Trong quá trình chung sống anh và chị C chung sống hạnh phúc với nhau được đến năm 2016, thì chị C đi làm ăn xa, tuy nhiên cả hai vẫn giữ liên lạc với nhau trên điện thoại. Thỉnh thoảng chị C có về thăm gia đình, anh và chị C không có mâu thuẫn gì. Nay chị C làm đơn đề nghị Tòa án không công nhận anh và chị C là vợ chồng anh không đồng ý vì anh không muốn bỏ chị C.
Về con chung: Chị Cao Thị C và anh Lê Văn N đều công nhận có 02 con chung cháu Lê Thị Y, sinh ngày 22/8/1993 và cháu Lê Thế B, sinh ngày 12/01/1997. Hiện nay các cháu đã trưởng thành, có sức khỏe lao động bình thường nên anh Năm không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản; công nợ: Chị Cao Thị C và anh Lê Văn N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên Tòa chị Cao Thị C vẫn giữ nguyên yêu cầu của mình, anh Lê Văn N có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, vì vậy căn cứ quy định của pháp luật để giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thủ tục tố tụng: Việc khởi kiện của nguyên đơn chị Cao Thị C thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thường Xuân được quy định tại khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án nhân dân huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa giải quyết vụ án đúng thẩm quyền, các bên đương sự đều chấp hành pháp luật.
. Về hôn nhân: Chị Cao Thị C và anh Lê Văn N chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1993 mà không có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Căn cứ vào khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình, xử không công nhận chị Cao Thị C và anh Lê Văn N là vợ chồng.
. Về con chung: Chị Cao Thị C và anh Lê Văn N có 02 con chung cháu Lê Thị Y, sinh ngày 22/8/1993 và cháu Lê Thế B, sinh ngày 12/01/1997. Hiện nay các cháu đã trưởng thành, có sức khỏe lao động bình thường nên các cháu ở với ai là tùy các cháu, chị C, anh N đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.
. Về tài sản; công nợ: Chị Cao Thị C và anh Lê Văn N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
. Về án phí: Chị Cao Thị C phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 53; Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ vào khoản 7 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ Điều 5; Điều 9; Điểm a Khoản 5; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.
Tuyên xử:
Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Cao Thị C và anh Lê Văn N.
Về con chung: Chị Cao Thị C và anh Lê Văn N có 02 con chung cháu Lê Thị Y, sinh ngày 22/8/1993 và cháu Lê Thế B, sinh ngày 12/01/1997. Hiện nay các cháu đã trưởng thành, có sức khỏe lao động bình thường nên các cháu ở với ai là tùy các cháu, chị C, anh N đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản; công nợ: Chị Cao Thị C và anh Lê Văn N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Buộc chị C phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Chị C đã nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai số: 0002452 ngày 08/6/2023 tại Chi cục thi hành án Dân sự huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa, số tiền này được chuyển thành tiền án phí của chị Cao Thị C phải nộp.
Quyền kháng cáo: Chị Cao Thị C được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (02/8/2023). Anh Lê Văn N được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND huyện Thường Xuân; - TAND tỉnh Thanh Hoá; - Chi cục THADS huyện Thường Xuân; - Đương sự; - Lưu HSVA. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Lê Thị Huyền Nguyễn Thị Thanh | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Tâm HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Tâm |