vanban.org

Bản án 11/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn L.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn L được ly hôn chị Nguyễn Thị H. Về con chung: Giao 01 con chung tên Nguyễn Ngọc L, sinh ngày 05/12/2016 cho anh Nguyễn Văn L tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng; giao 01 con chung tên Nguyễn Ngọc L, sinh ngày 06/02/2020 cho chị Nguyễn Thị H tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THUẬN N
TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 27-02- 2023
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN N, TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Khánh Hưng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phú Trần Anh Vương và bà Nguyễn Thị Liên.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Xuân Sơn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thuận N, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận N tham gia phiên toà: Bà Tài Thị Cao Sâm - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuận N, tỉnh Ninh Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 194/2022/TLST-HNGĐ, ngày 23 tháng 12 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2022/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 02 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm: 1997 (có mặt).

Trú tại: thôn Thương D 2, xã Phước D, huyện Thuận N, tỉnh Ninh Thuận.

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm: 1999 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Trú tại: thôn Thương D 2, xã Phước D, huyện Thuận N, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 20/12/2022 và tại phiên tòa, nguyên đơn anh Nguyễn Văn L trình bày: Anh với chị Nguyễn Thị H tự nguyện tìm hiểu và tiến đến chung sống với nhau từ năm 2016, đến năm 2017 thì thực hiện việc đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Phước D, huyện Thuận N. Sau khi kết hôn, anh và chị H chung sống tại nhà cha mẹ ruột của anh ở cùng thôn. Quá trình vợ chồng chung sống H phúc, đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, cuộc sống vợ chồng không hoà hợp, thường xuyên xảy ra cãi vã nên chị H tự ý bé con (là cháu Nguyễn Văn L) bỏ đi về nhà cha mẹ ruột từ đó vợ chồng không còn liên lạc với nhau và sống cách ly nhau từ đó cho đến nay. Nay tình cảm giữa anh với chị H không còn, vợ chồng sống với nhau không H phúc, mâu thuẫn đã trầm trọng nên anh yêu cầu Toà án giải quyết được ly hôn với chị H.

- Về con chung: Anh với chị Nguyễn Thị H có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc L, sinh ngày 05/12/2016 và Nguyễn Ngọc L, sinh ngày 06/02/2020. Hiện cháu L đang sống với anh, còn cháu L đang sống với chị H. Anh yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu L, còn cháu L anh đồng ý giao cho chị H nuôi (như anh với chị H đã thoả thuận). Anh không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn chị Nguyễn Thị H trình bày: Tại bản tự khai ngày 05/02/2023 chị Nguyễn Thị H trình bày, chị với anh Nguyễn Văn L tự nguyện tìm hiểu và đi đến chung sốn với nhau và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Phước D vào năm 2017. Quá trình vợ chồng chung sống H phúc đến năm 2021 thì xảy ra mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống, tính tình không hợp, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, chị đã bé con bỏ đi khỏi nhà cha mẹ chồng từ năm 2021 cho đến nay không còn liên lạc với anh L, vợ chồng sống cách ly từ đó cho đến nay. Nay chị xét thấy không còn tình cảm với anh L nên chị đồng ý ly hôn theo yêu cầu của anh L.

- Về con chung: Chị với anh L có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc L, sinh ngày 05/12/2016 và Nguyễn Ngọc L, sinh ngày 06/02/2020. Hiện cháu L đang sống với anh L, còn cháu L đang sống với chị. Chị yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu L, còn cháu L giao cho anh L nuôi. Chị không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Văn L, anh L được ly hôn chị H. Về con chung, đề nghị Hội đồng xét xử giao 01 con chung tên Nguyễn Ngọc L, sinh ngày 05/12/2016 cho anh Nguyễn Văn L tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng; giao 01 con chung tên Nguyễn Ngọc L, sinh ngày 06/02/2020 cho chị Nguyễn Thị H tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Anh L với chị H tư nguyện không yêu cầu bên nào cấp dưỡng nuôi con.

- Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc anh L phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên Tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Anh Nguyễn Văn L khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn, nuôi con chung với chị Nguyễn Thị H; chị H có nơi cư trú tại thôn Thương D 2, xã Phước D, huyện Thuận N, tỉnh Ninh Thuận. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thuận N.

. Về việc vắng mặt của bị đơn: Bị đơn chị Nguyễn Thị H có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị H.

. Về nội dung vụ án:

. Về hôn nhân: Anh Nguyễn Văn L và chị Nguyễn Thị H chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Phước D, huyện Thuận N, tỉnh Ninh Thuận theo Giấy chứng nhận kết hôn số 104 ngày 13/12/2017. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa anh L và chị H là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận.

Về tình trạng hôn nhân: Anh L và chị H đều có lời khai thừa nhận vợ chồng chung sống H phúc một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, đời sống chung không thể kéo dài, từ năm 2022 cho đến nay anh L và chị H không còn sống chung với nhau, không còn liên lạc, quan tâm tới nhau và không tìm cách hàn gắn quan hệ vợ chồng. Bản thân chị H cũng thừa nhận mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, không thể chung sống với nhau nên chị H đồng ý ly hôn theo yêu cầu của anh L. Tại phiên toà, anh L vẫn kiên quyết yêu cầu Toà án giải quyết được ly hôn chị H vì xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng không thể quay về chung sống đoàn tụ.

Từ những phân tích trên xét thấy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa anh L với chị H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh L.

. Về con chung: Anh L và chị H có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc L, sinh ngày 05/12/2016 và Nguyễn Ngọc L, sinh ngày 06/02/2020. Từ khi vợ chồng không còn sống chung với nhau, anh L là người trực tiếp nuôi cháu L, còn chị H là người trực tiếp nuôi cháu L. Quá trình giải quyết vụ án, anh L yêu cầu tiếp tục nuôi cháu L, còn chị H yêu cầu tiếp tục nuôi cháu L là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Cả anh L và chị H đều không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Cả anh L và chị H đều có quyền và nghĩa vụ, thăm nom con mà không ai có quyền ngăn cản.

. Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận N về việc giải quyết vụ án là phù hợp quy định của pháp luật nên chấp nhận.

. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc anh Nguyễn Văn L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều: 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn L.

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn L được ly hôn chị Nguyễn Thị H.

2. Về con chung: Giao 01 con chung tên Nguyễn Ngọc L, sinh ngày 05/12/2016 cho anh Nguyễn Văn L tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng; giao 01 con chung tên Nguyễn Ngọc L, sinh ngày 06/02/2020 cho chị Nguyễn Thị H tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Không bên nào có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về án phí: Anh Nguyễn Văn L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng mà anh L đã nộp theo Biên L thu số 0001542 ngày 23/12/2022 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Thuận N.

4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ./.

Cỡ chữ